(Trích Kinh Lăng Nghiêm – Quyển 6)
Theo Kinh Lăng Nghiêm quyển sáu, Bồ Tát Quán Thế Âm do chứng được Kim Cang Tam Muội và thành tựu vô tác diệu lực (tức năng lực không do cố ý mà tự nhiên hiện khởi), nên cùng tất cả chúng sinh trong mười phương, ba đời, sáu đường đồng khởi tâm đại bi, khiến cho họ đạt được 14 loại vô úy công đức
Văn bản gốc nằm trong phần Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương, thuộc Kinh Thủ Lăng Nghiêm, nói rõ về 14 loại công đức Vô Úy, là công năng thù thắng sau khi Bồ Tát Quán Âm tu chứng Nhĩ Căn viên thông. Sau đây là 14 công đức vô úy của ngài, Shop Tú Huyền xin hoan hỷ được chia sẻ :
14 công đức vô úy thí của người niệm và đảnh lễ danh hiệu Bồ Tát Quán Âm
14 Pháp Vô Úy của Đức Quán Thế Âm phát đại nguyện sâu rộng, gồm:
- Cứu ba tai: tai nạn do lửa, nước, gió.
- Thoát bốn nạn: nạn gông cùm, nạn quỷ mị, nạn cướp giết, nạn lao tù.
- Xa lìa ba độc: tham, sân, si.
- Ứng theo hai điều mong cầu: cầu sinh con trai, cầu sinh con gái.
- Trì danh được phúc: chỉ xưng danh hiệu Ngài mà phúc đức bằng vô lượng danh hiệu Bồ Tát khác.
Từ mười hai đại nguyện này triển khai thành mười bốn pháp vô úy, làm lợi ích khắp tất cả chúng sinh.
Chí tâm xưng niệm danh hiệu Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, không chỉ được thoát khỏi các nạn khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, mà còn có thể giải trừ: sinh, lão, bệnh, tử, độc dược, ác long, quỷ thần, binh đao, tai nạn, khổ ách, và các điều đáng sợ khác.
Thế mà chúng sinh còn ngu mê chẳng chịu tu tập, chẳng trì danh hiệu Bồ Tát, há chẳng đáng tiếc lắm sao?
1. Vô úy đối với khổ não
Do ta (Quán Thế Âm Bồ Tát) không dùng tâm vọng động để nghe tiếng trần thế, mà quán chiếu nơi chính người đang nghe, nên có thể khiến tất cả chúng sinh mười phương đang chịu khổ não, nếu họ chuyên tâm niệm danh hiệu ta, thì chỉ cần âm thanh ấy phát ra, ta liền nghe tiếng ấy mà cứu khổ, khiến họ được giải thoát.
Khổ não nghĩa là:
- Những gì bức bách thân thể từ bên ngoài, gọi là khổ.
- Những gì bức bách tâm ý từ bên trong, gọi là não.
Bồ Tát không hướng ra bên ngoài để nghe âm thanh thế gian, mà quay lại soi sáng người đang nghe là ai. Do vậy, trí tuệ của Ngài không bị phân tán theo trần cảnh, không khởi vọng kiến, không điên đảo, nên chứng nhập cảnh giới chân thật tịch tĩnh, không còn chịu khổ não.
Vì thế, nếu có chúng sinh nào đang chịu đau khổ mà một lòng xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì Bồ Tát sẽ nghe rõ âm thanh niệm danh ấy, theo tiếng mà đến cứu khổ, khiến người ấy liền được thoát khỏi khổ não. Đó gọi là: “Vô úy đối với khổ não”.
2. Diệt trừ nạn lửa – ban bố vô úy khỏi tai nạn đại hỏa
“Biết” ở tâm, “thấy” ở mắt. Tánh biết và tánh thấy nếu động thì thuộc về lửa. Bồ Tát có thể xoay trở lại tánh biết – tánh thấy để quy về chân không, nên khi chúng sinh gặp nạn lửa – lửa không thể thiêu cháy – đó là vô úy.
Bồ Tát có thể xoay chuyển tri kiến, khiến cho chúng sinh dù có rơi vào biển lửa cũng không bị lửa thiêu đốt.
Nói về diệt trừ nạn lửa (đây là đoạn Bồ Tát ban cho chúng sinh vô úy đối với tai nạn lửa lớn):
Cái gọi là “tri” là sự biết thuộc về tâm; “kiến” là sự thấy thuộc về mắt. Tánh “tri kiến” vốn có tính chất nóng, nên được xếp vào hành tướng của lửa.
Chúng sinh do chấp trước tri kiến vọng tưởng, nên lửa phiền não trong tâm bốc lên.
Bồ Tát thì xoay chuyển tri kiến ấy, trở về với chân không, quay lại với tự tánh thanh tịnh, phục hồi chân tri chân kiến. Khi nội tâm lặng lẽ, ngọn lửa trong tâm do thức tình vọng động được dập tắt, thì mọi loại lửa bên ngoài, như:
- Lửa do nghiệp báo,
- Lửa do ác nghiệp chiêu cảm,
- Lửa do phiền não đốt cháy,
đều không thể thiêu đốt được.
Đây chính là do lực chứng đắc của Bồ Tát từ nơi tự thân đạo lực, mà gia bị cho chúng sinh. Vì vậy, ai có thể một lòng xưng niệm danh hiệu Bồ Tát, liền được ánh sáng đại bi nhiếp thọ, không bị đọa vào nạn lửa, gọi là: Vô úy trước tai nạn lửa lớn.
3. Diệt trừ nạn nước – ban bố vô úy khỏi tai nạn đại thủy
Tánh “nghe” và “quán” nếu động thì thuộc về nước. Bồ Tát có thể xoay trở lại tánh nghe, phục hồi chân không, khiến chúng sinh dù bị cuốn trôi trong đại hồng thủy cũng không bị chết chìm – đó là vô úy.
Bồ Tát có khả năng xoay chuyển tánh “quán” và “nghe”, khiến cho chúng sinh dù bị nước lớn cuốn trôi cũng không bị chết chìm.
Nói về diệt trừ nạn nước (tức Bồ Tát ban cho chúng sinh vô úy khi gặp đại thủy tai):
Tánh “quán” và “nghe” vốn có tính động, căn nghe (văn căn) tương ưng với hành tướng của nước, có cùng bản tánh với nước – lặng sáng, thanh tịnh, viên dung và thẳm sâu.
Bồ Tát có thể xoay chuyển tánh nghe và tánh quán, trở về chân không diệu tánh, khiến cho nghiệp nghe (văn nghiệp) được tiêu trừ, nên thủy tai không thể làm chìm đắm.
Chính nhờ vào đạo lực chứng ngộ chân thật của Bồ Tát, mà Ngài gia bị cho chúng sinh, khiến cho:
- Nước do quả báo chiêu cảm,
- Nước từ ác nghiệp phát sinh,
- Nước của phiền não ngập tràn,
tất cả đều không thể làm chìm đắm được.
Bồ Tát giúp chúng sinh diệt trừ những dòng nước vọng tưởng của chín cõi, vượt thoát sinh tử, mà đến được bờ giác của chư Phật.
Vì thế, đây gọi là: Vô úy trước đại thủy tai.
4. Diệt trừ nạn quỷ – ban bố vô úy khi vào cõi La Sát
Bồ Tát chứng nhập thật tánh, dứt vọng tưởng, khởi đại bi tâm, không có niệm sát hại, nên khiến chúng sinh dù rơi vào quốc độ của quỷ La Sát, ác quỷ cũng tự tiêu diệt ác niệm – đó là vô úy.
Bồ Tát dứt sạch vọng tưởng, tâm không khởi niệm sát hại, khiến cho chúng sinh dù có rơi vào cõi ngạ quỷ hay La Sát, quỷ dữ cũng không thể làm hại được.
Nói về thoát khỏi nạn quỷ (tức Bồ Tát ban cho chúng sinh vô úy đối với ác quỷ và quốc độ của loài La Sát):
Bồ Tát đã chứng ngộ thật tánh, dứt sạch tất cả vọng tưởng hư vọng, mà vọng tưởng đã dứt thì trong tâm không còn niệm hại người, vượt thoát hoàn toàn mọi tâm hành giống như loài quỷ thần.
Nếu có chúng sinh được pháp tự tại, Bồ Tát sẽ quán sát căn cơ, dùng phương tiện thiện xảo, tùy cơ giáo hóa, thuyết giảng chánh pháp cho các vị Bồ Tát hoặc chúng sinh trên đường tu học.
Ngay cả khi những chúng sinh ấy vì nghiệp duyên mà rơi vào quốc độ của La Sát ác quỷ, thì cũng không bị hại, vì đã được oai lực từ bi và trí tuệ của Bồ Tát che chở.
Vậy nên, gọi là: Vô úy đối với tai nạn nơi cõi La Sát và ác quỷ.
5. Sáu căn dứt trần lao, gươm dao không thể hại.
Tánh “nghe” phát xuất từ tư duy, tư duy cái nghe mà không thấy có thật thể, thì trở về chân nghe. Sáu căn nếu còn dính trần là có thể làm hại người như gươm dao. Nhưng nếu Bồ Tát khiến sáu căn đều tiêu dung, trở về chân không, tất cả trần cảnh trở thành pháp âm thanh tịnh, khiến chúng sinh bị kẻ ác đâm chém mà dao gươm tự gãy đoạn – đó là vô úy.
(Thoát khỏi hình phạt dao kiếm — đoạn này nói Bồ Tát ban cho chúng sinh sự vô úy khi gặp nạn binh đao, hình cụ.)
“Nghe thấm mà thành nghe” là nói Bồ Tát Quán Thế Âm quay ngược lại để nghe nơi tự tánh, vốn là bản giác tự nhiên bên trong, dùng cái nghe ấy để huân tập, chuyển phàm thành Thánh, trở lại cái nghe chân thật, lìa xa vọng tưởng phân biệt.
Khi căn tai đã trở về nguồn, thì sáu căn khác cũng đồng thời thanh tịnh. Vì thật ra sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) khi vọng động thì cũng giống như binh khí có thể gây hại cho người, nhưng khi đã tiêu dung vào chân không thì các căn không còn gây tổn hại, trở về với tánh thanh tịnh vốn đồng thể với tánh nghe — nghe mà không phân biệt, không chấp trước, không nhiễm trần.
Bồ Tát lấy căn bản bất động bất hoại ấy để gia trì cho chúng sinh. Nếu có chúng sinh nào sắp bị tổn hại, mà chí thành xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì dao kiếm chém đến sẽ tự gãy đoạn đoạn, cho dù dao không gãy, thì thân họ cũng không bị tổn thương.
Giống như lấy dao cắt nước, nước không hề có dấu vết bị chém; hay như gió thổi qua ánh sáng, ánh sáng cũng không vì gió mà tắt, tự nhiên vượt qua nạn hình phạt binh đao, đạt được vô úy.
6. Tánh nghe thanh tịnh, ánh sáng chiếu khắp pháp giới – dạ xoa không thể nhìn.
Từ pháp tu “văn tư tu”, Bồ Tát thành tựu trí tuệ thanh tịnh, ánh sáng chiếu khắp mười phương, diệt trừ u ám. Nếu có dạ xoa (loại quỷ dữ trong bóng tối) đến gần, thì ánh sáng trí huệ khiến mắt chúng bị chói, không thể thấy người – đó là vô úy.
Nghe mà thấm nhuần, tịnh sáng nhiệm mầu, ánh sáng chiếu khắp pháp giới, khiến các loài có tính chất tối tăm chẳng thể tồn tại; khiến cho chúng sanh, dù bị các loài yêu quái như Dược-xoa, La-sát, Cưu-bàn-trà, cùng các loài quỷ như Tỳ-xá-xà, Phú-đan-na đến gần, cũng không bị chúng nhìn thấy.
Giải nghĩa vô úy đối với yêu quái và chướng nạn quỷ thần:
- Dược-xoa (Yakṣa): Còn gọi là quỷ nam ăn thịt người, tính tình nhanh nhẹn, thuộc quyền quản của Tỳ-sa-môn Thiên Vương phương Bắc.
- La-sát (Rākṣasa): Là quỷ nữ ăn thịt người, đáng sợ, thường ở những nơi ô uế, cũng thuộc quyền của Thiên Vương phương Bắc.
- Cưu-bàn-trà (Kumbhāṇḍa): Loại quỷ gây mộng mị, mê loạn tinh thần, chuyên làm người hôn mê và ám ảnh trong giấc ngủ, thuộc Thiên Vương Tăng Trưởng phương Nam quản lý.
- Tỳ-xá-xà (Piśāca): Là quỷ hút tinh khí của người và ngũ cốc, khiến thân thể suy yếu, thuộc Thiên Vương Trì Quốc phương Đông cai quản.
- Phú-đan-na (Putana): Là loài quỷ gây bệnh sốt, nóng lạnh, thường làm con người bị bệnh không rõ nguyên do, thuộc Thiên Vương Quảng Mục phương Tây quản lý.
Tất cả các loài này đều có bản chất âm u, tăm tối. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm tu hành pháp “nghe” đạt đến độ tinh sâu, trí tuệ vốn sẵn thanh tịnh hiển lộ, phát ra ánh sáng rực rỡ, chiếu sáng khắp pháp giới giống như mặt trời chói lọi, khiến mọi thứ u tối đều tiêu tan.
Nhờ ánh sáng thanh tịnh này, dù có các loài quỷ dữ đến gần chúng sanh, chúng cũng bị lòa mắt, không thể nhìn thấy, và do đó không thể làm hại. Như vậy, Bồ Tát khiến cho chúng sanh thoát khỏi mọi sự kinh sợ đối với quỷ thần yêu nghiệt — chính là sự ban cho “vô úy” (không sợ hãi).
7. Dứt tánh động tịnh, giải thoát khỏi trói buộc – xiềng xích không thể trói.
Do vọng tưởng nơi thanh trần mà bị trói buộc giống như bị cùm gông. Nhưng nếu Bồ Tát khiến động – tịnh đều diệt, tánh nghe phản vọng quy chân, thì thanh trần không thể trói buộc, khiến chúng sinh không bị cầm tù, giam hãm – đó là vô úy.
Thoát khỏi nạn tù ngục
(Đoạn này nói về việc Bồ Tát ban cho chúng sanh sự vô úy trước tai nạn bị giam cầm, xiềng xích)
“Âm tánh viên tiêu” là nói khi phản văn, quay lại lắng nghe tự tánh, thì âm thanh – cả động lẫn tĩnh – đều hiển hiện rõ ràng và không còn khởi vọng. Khi đó, “quán nghe quay lại”, tức là tai căn quay trở về với tự tánh, căn và trần đồng thời tiêu diệt.
Khi nội tâm không bị ràng buộc, bên ngoài cũng không bị giam cầm – đó là trạng thái vượt thoát tất cả trói buộc bởi vọng tưởng hư huyễn của thanh trần (âm thanh). Bồ Tát dùng diệu lực ấy gia trì cho chúng sanh, khiến cho những người đang gặp nạn giam cầm, nếu có thể nhất tâm xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì lập tức cảm ứng, khiến cho những gông cùm xiềng xích (gông đeo ở cổ gọi là “già”, xiềng chân gọi là “tỏa”) đều không thể trói được thân, tự nhiên được thoát ra.
Đây chính là vô úy đối với tai nạn giam cầm và xiềng xích.
8. Diệt âm thanh, thành tựu viên mãn nghe – kẻ cướp không thể hại.
Bồ Tát dứt âm thanh, viên thành tánh nghe, khởi lòng đại từ khắp cùng, có thể dùng đại lực để khiến chúng sinh an vui. Do đó, nếu chúng sinh đi vào đường hiểm như đường bằng phẳng, dù gặp bọn cướp cũng không bị hại – đó là vô úy.
Thoát khỏi nạn giặc cướp (đoạn này nói Bồ Tát ban cho chúng sanh sự vô úy trước nạn giặc cướp):
“Dứt âm mà nghe tròn vẹn” là chỉ khi Bồ Tát thực hành phản văn nhập lưu (quay lại lắng nghe tự tánh), thì âm thanh tiêu tan, thoát khỏi sự ràng buộc bởi trần cảnh của tiếng. Nhờ đó, nghe mà thấu suốt tánh gốc của căn (tức căn tánh viên thông), không còn đối lập bên ngoài, mọi pháp đều hòa vào một tâm. Vì thế, từ lực khởi sinh khắp nơi.
Bồ Tát do công đức tu hành này mà đem lại lợi ích lớn cho chúng sanh, khiến họ được an vui. Cho nên, nếu có chúng sanh nào chí tâm xưng niệm Thánh hiệu của Ngài, thì dù có đi trên đường hiểm ác cũng giống như đi trên con đường bằng phẳng. Nếu gặp bọn giặc ác, người độc tâm hiểm, tất cả đều hóa thành quyến thuộc từ bi. Đây chính là sự vô úy đối với nạn giặc cướp.
9. Xa lìa trần cấu – không bị sắc dục cám dỗ.
Do nghe mà phát tuệ, xa lìa mọi trần cấu, không bị sắc dục làm loạn, khiến những người có nhiều tâm tham dục trở nên thanh tịnh, không sinh tâm dâm loạn – đó là vô úy.
Do thường được hun đúc bởi sự nghe pháp, nên tâm lìa xa bụi trần, không bị sắc trần làm tổn hại, có thể khiến cho tất cả chúng sanh nhiều lòng dâm dục, dần dần xa lìa tâm tham ái.
Lìa tâm tham (đoạn này nói Bồ Tát ban cho chúng sanh sự vô úy đối với nỗi khổ của ba độc: tham, sân, si)
Ba thứ tham, sân, si được gọi là ba độc, có khả năng làm tổn hại pháp thân và huệ mạng, vô cùng đáng sợ.
Bồ Tát do thường xuyên nghe pháp mà được huân tập lìa xa bụi trần (âm thanh, sắc tướng…), nên không bị sắc trần làm mê hoặc. Các trần lao sáu căn (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều được cởi bỏ.
Bồ Tát tùy duyên hiện sắc mà không bị sắc trần trói buộc, ví như gương hiện hình ảnh mà không nhiễm, như nước in bóng mà không giữ, có thể khiến những người có tâm dâm dục mạnh mẽ cũng dần xa lìa tham ái và dục lạc.
Do đó, nói Bồ Tát ban sự vô úy đối với ba độc là không phải cổ vũ làm điều ác mà không sợ quả báo, mà là vì xưng niệm danh hiệu Bồ Tát có khả năng khiến tâm lìa xa độc hại, nên gọi là ban sự vô úy.
Lại nữa, tham, sân, si là nguyên nhân dẫn đến ba đường ác:
- Nhiều tham thì đọa vào địa ngục.
- Nhiều sân thì đọa vào ngạ quỷ.
- Nhiều si thì đọa vào súc sinh.
Vì vậy, nên thường xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, để tiêu trừ ba độc, lìa xa ba đường dữ.
10. Âm thanh thanh tịnh – khiến người giận dữ không nổi sân.
Âm thanh của Bồ Tát vốn thanh tịnh, xa lìa vọng trần, căn và trần hòa nhập, dung thông vô ngại. Do đó, có thể khiến những ai có tâm giận dữ, oán hận cũng không khởi tâm sân – đó là vô úy.
Âm thanh thuần tịnh, không nhiễm bụi trần; căn và cảnh viên dung, không còn phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Nhờ vậy, có thể khiến tất cả chúng sanh đầy sân hận xa lìa tâm phẫn nộ, oán thù.
(Xa lìa sân hận – đoạn này nói Bồ Tát ban cho chúng sanh sự vô úy khỏi tai họa do sân độc)
“Âm thanh thuần tịnh không nhiễm bụi trần” nghĩa là tánh nghe thanh tịnh vi diệu, không còn dính mắc vào âm thanh bên ngoài. Khi không có cảnh trần bên ngoài để đối, cũng không còn chủ thể bên trong để đối ứng; căn (tai) và cảnh (âm thanh) dung hợp không hai, hòa vào một thể.
Tâm sân hận vốn phát khởi từ sự đối nghịch, va chạm, chống đối. Khi đã không còn phân biệt đối đãi, thì gốc rễ của sân hận cũng không còn nơi nương tựa để khởi sinh.
Nếu thường xưng niệm, cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát sẽ dùng năng lực từ chứng đắc của Ngài – sức diệu dụng của “vô sân” – khiến cho những chúng sanh đầy giận dữ, thù hận được gió từ bi thổi tan lửa sân, xa lìa mọi phiền não sân hận, tự nhiên an ổn, không còn lo sợ vậy.
11. Xa lìa si mê – Bồ Tát ban vô úy trước độc hại của si mê
Bồ Tát tiêu trừ trần cấu, hồi phục tánh sáng, khiến người mê muội, tâm không lành cũng rời bỏ si mê, được khai sáng – đó là vô úy.
Tiêu trừ trần lao vọng tưởng, khiến tánh sáng xoay hiển lộ, thân tâm cùng pháp giới đều như lưu ly trong suốt, chiếu soi rõ ràng, không còn chướng ngại. Có thể khiến tất cả chúng sanh mê muội, ám độn, căn tánh ngu si – những kẻ như A-đề-na-ca (vô thiện căn) – đều vĩnh viễn xa lìa bóng tối si mê.
Xa lìa si mê – đoạn này nói về Bồ Tát ban cho chúng sanh sự vô úy trước nỗi khổ của độc si. Si mê là do bị vọng trần che lấp, vô minh ngăn ngại. Khi đầy đủ kiến hoặc thì thành ra mê muội; đầy đủ tư hoặc thì thành ra ám độn; đầy đủ vô minh thì thành chướng ngại nơi tánh. “Tiêu trừ trần lao, xoay hiển tánh sáng” nghĩa là Bồ Tát tiêu diệt vọng trần nơi cảnh duyên, khiến bản tánh vốn sáng quay về hiển hiện, thoát khỏi sự dính mắc tiềm ẩn, phục về chân thật nguyên sơ, phát ra ánh sáng từ bản giác. Nhờ đó mà cả pháp giới bên ngoài lẫn thân tâm bên trong đều như lưu ly bảo châu, sáng suốt rạng rỡ, trong ngoài đều chiếu rõ, không còn chướng ngại.
Bồ Tát dùng trí lực nhiệm mầu do tự chứng này để gia trì cho chúng sanh, khiến cho tất cả những kẻ si mê, vô thiện căn, mê mờ ngu độn – những kẻ được gọi là A-đề-na-ca (người không có thiện tâm, căn tánh si mê bậc nhất) – đều được xa lìa hẳn bóng tối si mê. Nếu thường niệm và cung kính Quan Thế Âm Bồ Tát, dùng chánh niệm phá trừ tà chấp, nương theo ánh trí huệ như mặt trời phá tan mờ tối, thì sẽ vĩnh viễn xa lìa bóng tối si mê, và không còn sợ độc si nữa vậy.
12 Ứng Cầu Nam Tử
Dung hợp hình sắc thì mọi chướng ngại diệt, trở về tánh nghe thì chứng nhập chân tánh. Dù đi vào thế gian mà không bị nhiễm trần, có thể hiện thân khắp mười phương, cúng dường vô số chư Phật, thọ trì pháp của các Ngài, làm pháp tử. Với vô úy này, ban cho chúng sinh không con, nếu cầu con trai sẽ được toại nguyện – đó là vô úy.
Nếu có người đời không có con, tất sẽ sinh ra ba nỗi sợ hãi:
- Sợ khi tuổi già không ai chăm sóc.
- Sợ sau khi qua đời không ai lo liệu hậu sự.
- Sợ không có người kế thừa dòng dõi tổ tiên, khiến cho hương hỏa đoạn tuyệt.
Chính vì ba điều lo sợ ấy, nên người đời thường mong cầu sinh được con trai.
Quán Thế Âm Bồ Tát vì lòng đại từ đại bi, để thành tựu nguyện vọng của chúng sanh, liền hiện thân do bốn đại giả hợp mà thành, nhưng vẫn quy về tánh nghe chân thật. Toàn thân là một bảo giác viên dung thanh tịnh. Ngài trụ nơi đạo tràng bất động nhưng vẫn tự tại đi vào thế gian, tùy loại mà hiện thân, tùy duyên mà làm lợi ích, mà không hề phá hoại tướng giả lập của thế gian.
Ngài có thể đi khắp mười phương, cúng dường chư Phật nhiều như số vi trần, được chư Phật thọ ký, trở thành Pháp tử nơi các cõi Phật, tiếp nối dòng Pháp của các bậc Pháp Vương. Vì có đầy đủ hạnh nguyện và đạo đức của bậc nam tử, nên có thể cảm ứng để chúng sanh sinh được con trai.
Nếu ai chí thành lễ bái, cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì Bồ Tát sẽ dùng sức đại phước đại trí vi diệu gia hộ cho họ, khiến những chúng sanh trong pháp giới không có con, có thể sinh được con trai đầy đủ phúc đức và trí tuệ.
Như vậy chính là Pháp Vô Úy trong việc cầu con trai vậy.
13 Ứng Cầu Nữ Tử
Bồ Tát sáu căn viên dung, chiếu soi khắp pháp giới như gương tròn lớn không hai không khác, tiếp nhận pháp môn không hề sai mất. Với công đức vô úy ấy, ban cho chúng sinh không con, nếu cầu con gái sẽ được như ý – đó là vô úy.
Sáu căn của Bồ Tát đều viên thông, chiếu sáng không hai, thấu suốt không chướng ngại, nhiếp trọn mười phương pháp giới, thành tựu tánh Không của Như Lai Tạng như một tấm gương viên mãn rộng lớn. Từ nơi cảnh giới này, Ngài thuận theo vi trần chư Phật trong mười phương, tiếp nhận trọn vẹn pháp môn bí mật, không chút sai lầm. Ngài có khả năng khiến cho những chúng sinh trong pháp giới vốn không có con gái, khi phát tâm muốn có con gái, sẽ sinh được người con gái đoan chánh, đầy đủ phước đức, hiền hòa nhu thuận, được mọi người yêu mến và cung kính. Đó chính là pháp vô úy đối với nguyện cầu con gái.
Giải thích của cổ đức rằng:
“Nam để nối dòng, nữ để kết thân bên ngoài. Chỉ có con trai mà không có con gái thì vẫn chưa phải là điều viên mãn.”
Quán Thế Âm Bồ Tát do sáu căn viên thông, chiếu sáng không hai, thông suốt không ngăn ngại, nhiếp khắp pháp giới như gương tròn lớn. Ngài thuận theo pháp môn nhiệm mầu, tiếp nhận không sai chạy. Sự thuận theo ấy biểu hiện cho đức tính nhu hòa, mềm mại của âm đức – tức là đạo làm nữ. Do vậy, Ngài có thể cảm ứng để chúng sinh được sinh con gái.
Nếu người nào chí thành lễ bái, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, thì nhờ sức đại nguyện và thần lực tự tại của Ngài gia trì, những chúng sinh vốn không có con gái, khi cầu nguyện sinh con gái, sẽ được như nguyện: sinh ra người con gái đoan chánh, đầy đủ phúc đức, hiền hòa nhu thuận, được nhiều người yêu thương và kính trọng.
Đây gọi là: Pháp Vô Úy khi cầu con gái.
14. Xưng Danh Được Phúc
Bồ Tát chứng đắc viên thông chân thật, khiến cho chúng sinh chỉ cần trì danh hiệu của Ngài Quán Thế Âm cũng giống như trì danh hiệu của vô số Bồ Tát khác (sáu mươi hai hằng hà sa), công đức bình đẳng không khác – đó là vô úy.
Trong ba nghìn đại thiên thế giới này – gồm trăm ức mặt trời, mặt trăng – hiện đang có vô lượng Pháp Vương Tử, tức là những vị Bồ Tát đã chứng đắc đạo quả, số lượng nhiều bằng sáu mươi hai hằng hà sa, đang hiện thân khắp các thế giới, nương theo pháp mà tu, làm khuôn mẫu cho đời, giáo hóa chúng sinh. Mỗi vị tùy thuận căn cơ của chúng sinh, vận dụng phương tiện thiện xảo và trí huệ riêng biệt, không ai giống ai.
Nhưng nhờ nơi căn bản viên thông mà Quán Thế Âm Bồ Tát đã chứng đắc – tức là cửa tai vi diệu nhiệm mầu – Ngài phát khởi và tu hành pháp môn “nhĩ căn viên thông”, khiến cho thân tâm vi tế mầu nhiệm thấu triệt, dung chứa, nhiếp khắp pháp giới. Do đó, Ngài có thể làm cho bất kỳ chúng sinh nào chỉ trì niệm danh hiệu của Ngài, cũng được phúc đức bằng với việc trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng hà sa số các vị Pháp Vương Tử. Phúc đức giữa người trì danh Quán Thế Âm và người trì danh nhiều vị Bồ Tát như vậy là bình đẳng, không hề sai khác.
Xem thêm các bài viết về Bồ Tát Quán Thế Âm liên quan khác:
- Tứ Vô Lượng Tâm Là Gì? Ý Nghĩa Tu Từ – Bi – Hỷ – Xả Theo theo góc nhìn Phật Giáo Nguyên Thủy
- Lục Độ Ba La Mật : 6 hạnh hoàn hảo trong Phật Giáo
- 12 đại nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm là gì? Ý Nghĩa của từng đại nguyện.
- Vì sao Đức Quán Âm tay cầm bình nước cam lồ và Cành Dương Liễu, ý nghĩa của 2 bảo vật này.
- 《Kinh Địa Tạng》và《Chú Đại Bi 》khác nhau như thế nào? ý nghĩa và tác dụng giữa 2 pháp môn này
- Nguồn gốc Phật Quán Thế Âm Bồ Tát, hình tướng và hạnh nguyện của ngài, Phật tử nên biết.
- 33 ứng thân của Quán Âm Bồ Tát gồm những vị nào ? Mỗi pháp tướng mang ý nghĩa gì?
- 4 pháp môn Quán Âm Bồ Tát thường gặp

