Giải nghĩa Tứ Thiền và Tứ Vô Sắc Giới theo Phật pháp nguyên thủy

Tứ Thiền và Tứ Vô Sắc Giới

Trong hành trình tu chứng theo Phật giáo, Thiền định giữ vai trò trọng yếu giúp hành giả đoạn trừ phiền não, an trú chánh niệm và thể nhập chân như. Tứ Thiền thuộc Sắc giới và Tứ Vô Sắc Định là tám tầng Thiền định vi diệu, từ thô đến tế, từ hữu sắc đến vô hình, giúp người tu vượt thoát ngũ dục, ly khổ đắc lạc, và từng bước chứng đắc cảnh giới thanh tịnh tuyệt đối. Bài viết này Shop Tú Huyền xin được phép giải thích rõ từng tầng Thiền một cách sát nghĩa, dễ hiểu, dựa trên tinh thần nguyên thủy của Phật pháp.

TỨ THIỀN (Tứ thiền Sắc giới)

Tứ Thiền còn được gọi là “Tĩnh Lự” của Sắc giới. Trong ba cõi, chỉ Thiền định thuộc Sắc giới mới hội đủ hai yếu tố: “tĩnh” – tức sự an tĩnh, lặng lẽ của tâm, và “lự” – tức sự suy xét, quán chiếu.

  • Thiền trong Dục giới tuy có “lự” nhưng thiếu “tĩnh”, vì tâm còn bị nhiễm ô bởi ngũ dục và trần cảnh.
  • Thiền trong Vô sắc giới thì có “tĩnh” nhưng không còn “lự”, vì các hành tướng phân biệt đều đã vắng bặt.
  • Chính vì vậy, chỉ có Thiền trong Sắc giới là đầy đủ cả hai mặt công năng – vừa tĩnh tâm vừa tư duy quán chiếu, nên xứng đáng mang tên Tĩnh Lự, tức là Thiền định chân chánh.

1. Sơ thiền – Ly sinh hỷ lạc:

  • Mừng vì lìa được dục ác nên sinh thiện
  • Thân tâm nhẹ nhàng an ổn nên có lạc

Nghĩa là

Ly sinh hỷ lạc là trạng thái hỷ lạc khởi lên do đã lìa xa dục vọng và các pháp ác bất thiện. Tâm an trú nơi thiện pháp, thân tâm nhẹ nhàng thư thái nên sinh hỷ lạc.

2. Nhị thiền – Định sinh hỷ lạc:

  • Mừng vì tâm giác quán lắng xuống nên sinh hỷ
  • Thân tâm khoan khoái dễ chịu nên có lạc

Nghĩa là :

Định sinh hỷ lạc là trạng thái hỷ lạc khởi lên từ định tâm, khi tâm đã lắng đọng không còn tầm (tác ý khởi đầu) và tứ (xét soi). Nhờ đó thân tâm cảm nhận được sự an vui sâu sắc.

3. Tam thiền – Ly hỷ diệu lạc:

  • Không còn hỷ thô động
  • Chỉ còn nguồn lạc vi diệu mềm mại không thể diễn tả

Nghĩa là:

Ly hỷ diệu lạc là tầng thiền vi diệu vượt ngoài cảm xúc hỷ, chỉ còn lại lạc thọ tinh tế, sâu lắng không lay động. Sự an lạc ấy kéo dài miên man, vi diệu khôn cùng, khó diễn tả bằng lời.

4. Tứ thiền – Xả niệm thanh tịnh:

  • Không khổ không lạc
  • Tâm không trống rỗng sáng trong tịch tĩnh
  • Như mặt nước hồ trong không gợn sóng

Xả niệm thanh tịnh là trạng thái xả bỏ cả khổ lẫn lạc, tâm hoàn toàn vắng lặng, trong sáng như nước lặng không gợn sóng. Tâm không còn phân biệt, đạt đến thanh tịnh tuyệt đối.

◎ Đây cũng gọi là Tứ Thiền của Sắc giới.

  • Thiền Định trong Dục giới: có “tư duy” (hành tướng) nhưng không có “tĩnh lặng”.
  • Thiền Định trong Vô sắc giới: có “tĩnh lặng” nhưng không có “tư duy”.
  • Chỉ riêng Thiền Định trong Sắc giới mới đầy đủ cả “tĩnh” và “lự” nên được gọi là “Tĩnh Lự” (tức Thiền Định chân chánh).

Tứ Thiền Sắc Giới dựa trên tinh thần A-tì-đạt-makinh điển Nikāya

A Di Đà Phật, Shop Tú Huyền xin được hoan hỷ chia sẻ thêm phần giải thích đối chiếu Tứ Thiền Sắc Giới dựa trên tinh thần A-tì-đạt-makinh điển Nikāya, để làm rõ vì sao Thiền Sắc giới được gọi là Tĩnh Lự và được xem là Thiền chân chánh trong Tam giới.

Tĩnh Lự – Thiền định chân chánh nơi Sắc giới

Thuật ngữ “Tĩnh Lự” là dịch nghĩa từ chữ Phạn Dhyāna, tức Jhāna trong Pāli, thường được gọi là Thiền. Tuy nhiên, “Tĩnh Lự” không chỉ là Thiền thông thường, mà là Thiền định có cả sự an tĩnh (tĩnh)quán chiếu tư duy sâu sắc (lự).

Trong A-tì-đạt-ma (Abhidhamma) và các bản kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya), Trường Bộ (Dīgha Nikāya) của hệ thống Nikāya, có sự phân biệt ba loại Thiền trong Tam giới:

1. Thiền Dục giới (Kāmāvacara-jhāna):

Là những trạng thái định sơ khởi mà người phàm phu có thể đạt được khi tâm chuyên chú vào một đối tượng thiện (ví dụ: niệm Phật, niệm ân Phật, niệm hơi thở…). Thiền này tuy có khả năng sinh thiện, nhưng chưa thật sự vắng lặng, vì tâm vẫn còn bị lôi cuốn bởi dục lạc ngũ trần. Do đó, có lự (tức tư duy, phân tích đối tượng), nhưng chưa có đủ tĩnh.

2. Thiền Sắc giới (Rūpāvacara-jhāna):

Là 4 tầng Thiền mà hành giả đạt được khi tâm lìa xa Dục giới, an trú nơi các pháp thanh tịnh, tinh tế hơn. Ở đây, tâm đã vượt qua ngũ dục, thân tâm nhẹ nhàng, thanh tịnh, có đủ cả tĩnh và lự:

  • Tầng thiền đầu còn có tầm tứ (tư duy) và hỷ lạc (thô).
  • Tầng thứ hai trở đi dần dần xả bỏ các hành tướng, đi đến lạc thanh tịnh, rồi xả niệm thanh tịnh.

➡ Vì vậy, chỉ Thiền Sắc giới mới xứng gọi là Tĩnh Lự (Jhāna chân chính).

3. Thiền Vô sắc giới (Arūpāvacara-jhāna):

Là bốn tầng định vi tế hơn Sắc giới, hành giả không còn an trú trên sắc pháp hay cảm thọ. Tuy nhiên, lúc này tâm tuy rất tĩnh, nhưng không còn “lự”, tức là không còn khả năng suy xét đối tượng – chỉ còn sự trụ sâu vào định không hình tướng.
➡ Cho nên tuy cao hơn về mặt vi tế, Thiền Vô sắc không còn là Tĩnh Lự chân nghĩa, vì thiếu yếu tố quán chiếu.

TỨ VÔ SẮC ĐỊNH

Không vô biên xứ định

  • Diệt trừ sắc pháp
  • Duyên theo hư không vô biên
  • Tâm không tán loạn
  • Nhàm chán sắc giới nương vào hư không
  • Vượt qua sắc tưởng, nhập Không xứ

Khi sắc pháp (hình tướng) đã diệt, tâm duyên vào hư không vô biên, không còn phân tán. Do chán ghét sắc tướng mà nương vào không, vượt qua tưởng về sắc để nhập vào cảnh giới hư không bao la.

Thức vô biên xứ định

  • Định Không xứ diệt
  • Tương ưng với thức
  • Thấy thức vô biên
  • Nhàm chán hư không nương vào thức
  • Vượt Không xứ, nhập Thức xứ

Khi định về hư không diệt, tâm hợp với thức, thấy biết khắp nơi, nhận biết thức là vô biên. Do chán bỏ hư không mà nương vào thức, vượt khỏi không xứ để nhập vào cảnh giới thức vô biên.

Vô sở hữu xứ định

  • Định Thức xứ diệt
  • Không thấy tướng tâm
  • Không còn phân biệt
  • Nhàm chán thức giới nương vào Vô sở hữu
  • Vượt Thức xứ, nhập Vô sở hữu xứ

Khi định về thức cũng diệt, không còn thấy tướng của tâm, không còn phân biệt gì nữa. Do chán thức mà nương vào “vô”, vượt khỏi thức xứ để nhập vào nơi “không có gì cả”.

Phi tưởng phi phi tưởng xứ định

  • Chẳng phải có thức
  • Cũng chẳng phải Vô sở hữu
  • An nhiên trú ở trạng thái trung gian
  • Nhàm chán các biên kiến nương vào trung đạo
  • Vượt Vô sở hữu xứ, nhập Phi phi tưởng xứ

Không phải còn tưởng, cũng không phải hoàn toàn vô tưởng; là trạng thái trung đạo giữa có và không có thức. Do chán nơi có và nơi không nên an trú ở chốn trung hòa, vượt khỏi cảnh giới vô sở hữu để nhập vào cõi phi tưởng phi phi tưởng.


Xem thêm các bài viết Phật Pháp liên quan khác:

0/5 (0 Reviews)