TỨ VÔ SỞ ÚY LÀ GÌ?
Tứ vô sở úy hay còn gọi là “Tứ Vô Úy” nghĩa là bốn điều không sợ hãi, là tâm tự tại, không sợ sệt khi giáo hóa chúng sinh. Đây là biểu hiện của trí tuệ và đại bi nơi Phật và Bồ Tát – không vì bất cứ chướng ngại nào mà thoái lui, cũng không vì nghi ngờ từ người khác mà nao núng. Tứ vô úy cũng là một trong 18 pháp bất cộng của chư Phật.
TỨ VÔ SỞ ÚY CỦA ĐỨC PHẬT
Khi Phật thuyết pháp, Ngài hiển lộ bốn điều không sợ hãi:
Nhất thiết trí vô úy
(Phạn: sarva-dharmābhisaṃbodhi-vaiśāradya)
Còn gọi là: Nhất thiết trí vô úy, Chính đẳng giác vô úy, Đẳng giác vô úy.
Phật tuyên bố giữa đại chúng: “Ta là bậc Nhất Thiết Trí” – tức biết tất cả pháp, thế gian và xuất thế gian, không một pháp nào mà không tường tận.
Đức Phật giác ngộ thấu triệt tất cả các pháp, an trụ trong chánh kiến, không bị khuất phục bởi bất cứ tà luận nào, nên có sự tự tin không sợ hãi.
Sự tuyên bố ấy không vì kiêu mạn, mà vì lợi ích chúng sanh, giúp họ sinh lòng kính tin.
Lậu tận vô úy
(Phạn: sarvāsrava-kṣaya-jñāna-vaiśāradya)
Còn gọi là: Lậu tận vô úy, Vĩnh đoạn lậu hoặc vô úy.
Phật nói: “Ta đã đoạn tận tất cả phiền não – tham, sân, si, mạn, nghi…”, không còn bất kỳ lậu hoặc nào tồn tại.
Sự vô úy này cho thấy Ngài là bậc A-la-hán, là Bậc Giải Thoát rốt ráo.
Nghĩa là: Đức Phật đã đoạn sạch mọi phiền não, lậu hoặc, nên không còn điều gì từ bên trong hay bên ngoài có thể gây lo sợ cho Ngài.
Nói về pháp chướng đạo vô úy
(Phạn: antarāyika-dharmānanyathātva-niścita-vyākaraṇa-vaiśāradya)
Còn gọi là: Nói pháp chướng ngại vô úy, Nói đạo chướng ngại vô úy.
Phật chỉ rõ các chướng ngại như: nghiệp lực, phiền não, vô minh… là những nguyên nhân ngăn cản con đường giác ngộ.
Ngài nói rõ mà không e ngại bất kỳ ai phản bác.
Nghĩa là: Đức Phật giảng rõ những pháp gây chướng ngại cho sự tu hành, đồng thời có thể thọ ký cho người khác một cách chắc chắn, không sợ bị chỉ trích hay nghi ngờ.
Nói về con đường diệt khổ vô úy
(Phạn: sarva-saṃpad-adhigamāya nairyānika-pratipat-tathātva-vaiśāradya)
Còn gọi là: Nói đạo xuất khổ vô úy, Nói tận khổ đạo vô úy.
Phật giảng về đạo lộ giác ngộ như Bát Chánh Đạo, Tam Vô Lậu Học (Giới – Định – Tuệ) – con đường đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi.
Ngài thuyết minh đạo lý này không do học từ ai, mà do chính Ngài chứng ngộ, nên không hề sợ sai lạc.
Nghĩa là: Đức Phật có thể giảng dạy rõ ràng về con đường đưa đến sự giải thoát, dẫn chúng sanh ra khỏi khổ đau, hoàn toàn không sợ hãi hay chướng nạn nào khi tuyên thuyết về chân lý đó
TỨ VÔ SỞ ÚY CỦA BỒ TÁT
(Phạn: bodhisattvānām catvāri vaiśāradyāni)
Theo Đại Trí Độ Luận quyển 5, Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 11 và các kinh luận khác, Bồ Tát có 4 sự vô úy như sau:
1. Vô úy do nghe, thọ trì và giảng giải nghĩa lý của Đà La Ni
(Phạn: dhāraṇī-śrutodgrahaṇārtha-nirdeśa-vaiśāradya)
Còn gọi là:
- Năng trì vô úy,
- Tổng trì vô úy,
- Tổng trì không quên nên thuyết pháp không sợ hãi,
- Do không quên lời Phật dạy nên giữa đại chúng thuyết pháp mà không sợ hãi.
Nghĩa là:
Bồ Tát có năng lực nghe pháp, thọ trì các Đà La Ni (chú tổng trì), không quên mất những gì đã học. Vì nhớ rõ nghĩa lý sâu xa của chánh pháp nên khi giảng pháp giữa đại chúng, tâm hoàn toàn tự tin không sợ hãi.
2. Vô úy do chứng ngộ Vô ngã, thấu rõ căn tánh chúng sinh, ba nghiệp thanh tịnh, hành trì đầy đủ oai nghi
(Phạn: nairātmyādhigamāt para-viheṭhanā-nimitta-samudācāra-sahajānādhigateryāpatha-trikarma-pariśuddha-mahā-rakṣa-saṃpanna-vaiśāradya)
Còn gọi là:
- Tri căn vô úy,
- Biết rõ pháp dược và căn cơ, tâm tính của chúng sanh nên thuyết pháp không sợ hãi,
- Biết căn cơ chúng sinh lợi hay độn mà ứng cơ thuyết pháp nên không sợ hãi.
Nghĩa là:
Bồ Tát do chứng đắc lý Vô ngã, hiểu rõ căn tánh sai biệt của chúng sanh (lợi căn hay độn căn), có thể ứng hợp căn cơ mà giảng pháp, lại có ba nghiệp (thân, khẩu, ý) thanh tịnh, đầy đủ oai nghi phạm hạnh. Nhờ vậy, khi thuyết pháp giữa đại chúng, Bồ Tát không chút sợ hãi, hoàn toàn tự tại.
3. Vô úy do thường ghi nhớ pháp, thấu triệt trí huệ, phương tiện, khéo độ hữu tình, trừ sạch chướng nạn
(Phạn: sadodgṛhīta-dharmāvismaraṇa-prajñopāya-niṣṭhāgata-sattva-nistārana-prasāda-saṃdarśana-śubhānantarāyika-vaiśāradya)
Còn gọi là:
- Đáp báo vô úy,
- Khéo léo trả lời, đối đáp đúng pháp nên không sợ hãi,
- Đối với mọi vấn nạn của đại chúng, có thể y theo chánh pháp mà trả lời rõ ràng, không chút lo ngại,
- Trong mười phương, không thấy bất kỳ câu hỏi nào khiến Bồ Tát không thể trả lời đúng pháp, nên nói pháp giữa đại chúng mà tâm không hề sợ hãi.
Nghĩa là:
Bồ Tát luôn ghi nhớ chánh pháp, khéo vận dụng trí huệ và phương tiện thiện xảo để cứu độ hữu tình, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ, vượt qua mọi chướng nạn. Bồ Tát không hề sợ hãi khi bị đại chúng chất vấn vì có khả năng ứng đối trôi chảy, đúng pháp, đoạn trừ nghi hoặc cho người.
4. Vô úy do không quên tâm Nhất thiết trí, không cầu xuất ly nơi các thừa khác, thành tựu lợi ích hữu tình viên mãn
(Phạn: sarva-jñatā-cittāsaṃpramoṣānya-yānāniryāṇa-saṃpūrṇa-vaśitā-sarva-prakāra-sattvārtha-saṃprāpana-vaiśāradya)
Còn gọi là:
- Quyết nghi vô úy,
- Có thể đoạn nghi nên nói pháp không sợ hãi,
- Nhất tâm không thoái chuyển, không pha tạp với các thừa khác, độ thoát hữu tình, đạt đến chân thật vô úy,
- Đối với tất cả câu hỏi, có thể giải đáp như lý như pháp, đoạn sạch nghi hoặc của chúng sanh, nên khi nói pháp giữa đại chúng, không còn e ngại.
Nghĩa là:
Bồ Tát không bao giờ quên tâm nguyện thành Phật, không tìm cầu giải thoát nơi các thừa khác (Thanh văn, Duyên giác) mà kiên định hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát có khả năng lợi tha viên mãn, nói pháp khai mở trí tuệ cho chúng sanh, giải nghi, đoạn hoặc một cách thiện xảo, nên dù giữa đại chúng đông đảo, cũng không hề sợ hãi.
Tài liệu tham khảo:
- Đại Thừa Bảo Vũ Kinh quyển 4
- Trừ Cái Chướng Bồ Tát Sở Vấn Kinh quyển 7
- Đại Trí Độ Luận quyển 25
Về thể tánh của Tứ Vô Úy, theo Câu Xá Luận quyển 27 giảng rằng:
Vô úy nơi trí tuệ thấy rõ các pháp (Chính đẳng giác vô úy)
Lấy mười trí (thập trí) làm thể tánh. Trong đó, đồng thể với trí biết chỗ đúng – chỗ sai (xứ phi xứ trí lực), tức là trí lực thứ nhất trong Thập Lực của Phật.
Vô úy nơi trí đoạn tận lậu hoặc (Lậu tận vô úy)
Lấy sáu trong mười trí làm thể tánh – tức là ngoại trừ bốn trí: trí về khổ, tập, đạo, và tha tâm. Đồng thể với trí lực thứ mười, tức trí đoạn tận lậu hoặc trong Thập Lực.
Vô úy khi thuyết pháp về chướng ngại (Nói chướng pháp vô úy)
Lấy tám trong mười trí làm thể tánh – trừ hai trí: trí về đạo và trí về diệt. Đồng thể với trí lực thứ hai, tức nghiệp dị thục trí lực trong Thập Lực.
Vô úy khi nói về con đường xuất ly (Nói xuất đạo vô úy)
Lấy chín trong mười trí làm thể tánh – trừ trí về diệt. Đồng thể với trí lực thứ bảy, tức hành xứ đạo trí lực trong Thập Lực.
Lại theo Thuận Chánh Lý Luận quyển 75 dạy rằng:
Trong bốn sự vô úy, hai điều đầu biểu hiện viên mãn tự lợi của Phật:
- Một là trí đức (trí tuệ thành tựu viên mãn)
- Hai là đoạn đức (đoạn trừ phiền não viên mãn)
Hai điều sau biểu hiện viên mãn lợi tha của Phật:
- Một là tu đoạn đức (giúp người đoạn trừ phiền não)
- Hai là tu trí đức (giúp người khai mở trí tuệ)
(Tài liệu tham khảo: Đại Trí Độ Luận quyển 2, Thành Thật Luận quyển 1, Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận quyển 6, Du Già Sư Địa Luận quyển 50, Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 19, Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ quyển 2 bổ bản)
PHÂN TÍCH – SO SÁNH PHẬT VÀ BỒ TÁT VÔ ÚY
| Đặc điểm | Đức Phật | Bồ Tát |
|---|---|---|
| Mức độ | Viên mãn (đã thành Phật) | Đang tu hành, trên đường giác ngộ |
| Tự lợi | Có – bằng trí và đoạn phiền não | Có – nhưng chưa viên mãn như Phật |
| Lợi tha | Viên mãn, hóa độ khắp mười phương | Đang hành hóa, tùy hạnh tùy cơ |
| Tâm thái | Tuyệt đối tự tại, bất động | Dõng mãnh tinh tấn, thiện xảo phương tiện |
ỨNG DỤNG CHO NGƯỜI HỌC PHẬT HÔM NAY
Người học Phật cần noi theo Tứ Vô Sở Úy mà:
- Trí tuệ học sâu: như Phật, cần hiểu pháp lý, tu tập trí tuệ.
- Tâm không sợ hãi: khi gặp người phỉ báng, không lui sụt.
- Khéo hóa độ: biết căn cơ người nghe mà giảng pháp phù hợp.
- Giải nghi cho người: phải có bi – trí song hành để khai mở lòng tin cho đại chúng.
KẾT LUẬN
Tứ Vô Sở Úy không chỉ là đức tướng của Phật và Bồ Tát, mà còn là mẫu mực cho người tu học noi theo. Chúng ta cần tu tập tín – giải – hạnh – chứng, để từ từ thành tựu tâm không sợ hãi, dõng mãnh trên con đường Bồ Tát đạo.
Nguyện đem công đức này
Hồi hướng khắp tất cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Thuyết Pháp Vô Úy Như Lai
Nam Mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Xem thêm các bài viết Phật Pháp liên quan khác:
- 18 pháp bất cộng của phật giáo hữu bộ : Những Đặc Tánh Riêng Của Chư Phật
- Tứ Vô Ngại Trí : Trí tuệ biện tài của Bồ Tát
- Giải Nghĩa Như Lai Thập Lực – Trí Tuệ Dẫn Dắt Chúng Sanh
- Ngũ Thời Bát Giáo – Hiểu Để Tu Đúng Căn Cơ
- Lục hòa kính – Ứng dụng Lục hòa trong đời sống
- Pháp Quản Lý Của Bồ Tát Địa Tạng trong địa ngục.
- Linh hồn là gì theo triết lý Phật Giáo

