Thập lực của phật là gì?
Phật chứng được Trí tuệ Bát-nhã nơi Thật tướng, từ Bát-nhã ấy mà tuôn xuất ra mười loại trí lực siêu việt, có khả năng độ thoát chúng sanh, nên gọi là 10 Lực của Đức Phật (Phật Thập Lực).
Phật có vô lượng trí lực, nhưng để giáo hóa chúng sanh thì chỉ cần 10 lực này là đủ, nên kinh điển chỉ nói đến Thập Lực.
Thập lực gồm những gì?
1. Tri thị xứ phi xứ trí lực
Tri thị xứ phi xứ trí tuệ lực nghĩa là Trí lực biết rõ điều gì là đúng lý và điều gì là phi lý.
“Xứ” ở đây có nghĩa là hợp với lý đạo.
Phật với trí tuệ viên mãn biết rõ đâu là điều hợp lý (đúng với chân lý), nên có thể xảy ra, và đâu là điều trái lý (phi lý), nên không thể xảy ra.
Ví dụ:
- Làm việc thiện thì được quả lành,
- Làm điều ác thì chịu quả báo khổ,
Đó là điều hợp lý, gọi là “có xứ”.
Ngược lại:
- Nếu người làm thiện lại gặp ác báo,
- Kẻ làm ác lại được an vui,
Đó là điều trái lý, gọi là “phi xứ” – tức không thể có chuyện như thế theo chánh lý nhân quả.
Có người thắc mắc:
“Tại sao con thấy có người làm ác mà vẫn sống sung sướng, còn người hiền lành lại chịu nhiều khổ đau?”
Phật dạy:
- Đó là vì ác nghiệp của người ác trong đời này chưa chín muồi, nên tạm thời chưa chịu báo;
- Nhưng thiện nghiệp từ đời trước của họ đã đến thời trổ quả, cho nên dù đời này tạo ác vẫn còn hưởng phước – đó là đang hưởng phúc lành đã tu trong quá khứ.
Ngược lại:
- Người làm lành mà gặp khổ là vì thiện nghiệp đời này chưa đủ lực để trổ quả,
- Trong khi ác nghiệp đời trước đã chín, nên nay phải trả.
Đây chính là chân lý nhân quả ba đời, chẳng hề sai chạy.
Lại nữa, Phật dạy:
Không thể nào có hai đức Phật đồng thời xuất hiện trong cùng một cõi thế gian.
Vì sao?
Vì Phật từ vô lượng kiếp đã không kết oán với chúng sanh, các nghiệp oán hận đã đoạn sạch.
Không còn oán thù thì không còn đối đầu, không còn tranh chấp, nên không thể có hai vị Phật cùng xuất hiện ở một quốc độ.
Chân lý này gọi là “phi xứ” – không thể xảy ra.
Chỉ có một vị Phật trong một cõi thế giới.
Ví dụ:
- Hiện nay cõi Ta Bà là quốc độ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật,
- Cõi Tây Phương Cực Lạc là quốc độ của Phật A Di Đà,
- Cõi Phương Đông Tịnh Lưu Ly là quốc độ của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Khắp các cõi trong mười phương hư không, mỗi thế giới chỉ có một vị Phật hiện thế giáo hóa.
Trái lại, phàm phu thì ở đâu cũng có tranh chấp, bất đồng, nên phải chịu khổ vì oan gia oán đối.
2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực
Tri tam thế nghiệp báo trí lực có nghĩa là Trí lực của Phật biết rõ nhân quả, nghiệp duyên ba đời của tất cả chúng sanh.
- Có nghiệp đã tạo trong quá khứ và đã thọ báo trong quá khứ,
- Có nghiệp tạo đời trước, đến hiện đời mới trổ quả,
- Có nghiệp tạo từ nhiều kiếp trước, đến đời sau mới thọ báo,
- Cũng có nghiệp trải qua nhiều đời mới dứt, thọ báo chưa hết ở đời trước thì tiếp tục chịu quả trong hiện tại.
Phật biết rõ ràng từng người, vào lúc nào, nơi nào tạo nghiệp, rồi sẽ sinh ở đâu, vào lúc nào, nơi nào thọ báo – không mảy may sai sót.
Còn phàm phu như chúng ta không có trí tuệ ấy, khi gặp khổ lại oán trời trách người, có khi còn trách cả Phật, thậm chí buông lời không tin nhân quả, không tin Tam Bảo.
Do đó, người trí nên thường lễ Phật, tụng kinh, niệm Phật, niệm Quán Âm Bồ Tát để tiêu trừ nghiệp chướng, giúp nghiệp ác tiêu mỏng, phước lành tăng trưởng.
Chuyện xưa thời Phật tại thế
Một hôm, có một người nam đến cầu xin Tôn giả Xá Lợi Phất cho xuất gia.
Tôn giả nói:
“Muốn xuất gia phải có thiện căn. Nếu không có thiện căn thì không thể xuất gia được. Để ta quán xem ngươi có thiện căn chăng.”
Rồi Tôn giả nhập định quán chiếu, thấy người ấy trong tám vạn kiếp trở lại chưa từng gieo trồng một chút thiện căn, nên lập tức từ chối, đuổi đi, không cho xuất gia.
Người ấy buồn bã, đau lòng, vừa rời khỏi tịnh xá thì gặp Đức Phật đang từ ngoài trở về.
Phật thấy biết mọi sự, nhưng vẫn từ bi hỏi:
“Sao ông buồn rầu như thế?”
Người ấy đáp:
“Con muốn theo Tôn giả Xá Lợi Phất xuất gia, nhưng ngài bảo con tám vạn kiếp không từng gieo chút thiện căn nào, nên không thể xuất gia.”
Phật liền nói:
“Ông hãy theo ta xuất gia.”
Người ấy nghe vậy mừng rỡ, liền đi theo Phật, không bao lâu chứng đắc quả A La Hán.
Tôn giả Xá Lợi Phất rất đỗi kinh ngạc, nghĩ rằng:
“Người không có thiện căn, sao lại có thể xuất gia và chứng quả A La Hán?”
Phật liền từ bi giảng rõ:
“Cách đây tám vạn kiếp, người ấy từng làm một người tiều phu. Một ngày nọ, khi đang đốn củi trong rừng, gặp phải một con hổ dữ.
Ông vội trèo lên ngọn cây. Hổ không ngừng dùng vuốt cào vào thân cây. Nếu cây gãy, ông sẽ rơi xuống và bị hổ ăn thịt.
Trong cơn nguy hiểm cùng cực, ông chợt nhớ có người từng nói rằng: ‘Phật là bậc cứu hộ chúng sanh’.
Nhưng ông chưa từng biết danh hiệu của một vị Phật nào, không biết nên cầu ai, chỉ biết hướng lên trời lớn tiếng kêu rằng:
‘Nam Mô A Di Đà Phật, xin cứu con!’
Niệm xong, quả nhiên con hổ bỏ đi.”
Phật nói tiếp:
“Chỉ một câu ‘Nam Mô Phật’ ấy, đã gieo một chủng tử thiện căn vào tàng thức (A-lại-da thức) của ông.
Đến hôm nay, thiện căn chín muồi, nên được xuất gia và chứng đắc A La Hán.
Các vị Thanh Văn chỉ quán được nghiệp trong phạm vi tám vạn kiếp.
Ngoài tám vạn kiếp thì không thể thấy, nên Tôn giả Xá Lợi Phất không thấy được thiện căn của ông ấy, nhưng Phật thì thấy rõ.”
Lời kết
Chỉ một niệm xưng danh “Nam Mô Phật” trong lúc nguy nan, cũng đủ gieo thiện căn sâu xa.
Nên người có trí phải trân quý từng lời niệm Phật, từng niệm thiện tâm, vì nhân quả không mất, thiện duyên không uổng.
3. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực
Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ các tầng thiền định và các tam muội giải thoát. Shop Tú Huyền xin phép tách rời 2 nhóm như sau:
1. Chư Thiền – Tức Tứ Thiền Sắc Giới
Phật biết rõ từng tầng bậc thiền định, từ sơ thiền cho đến tứ thiền, rõ sâu cạn, rộng hẹp, và cũng biết chúng thuộc về hữu lậu pháp – tức là còn nằm trong sinh tử luân hồi.
Dù hành giả chứng được các tầng thiền cao, nếu không đoạn tận phiền não thì vẫn là thiền hữu lậu, chưa giải thoát khỏi sinh tử.
2. Giải Thoát Tam Muội – Tức Thiền Ba-la-mật
“Tam muội” chính là “Chánh định” – tâm hoàn toàn không tán loạn, an trụ một cảnh, không lay động, đó gọi là định.
Nhưng chỉ có định đưa đến giải thoát sinh tử, mới được gọi là giải thoát tam muội, hay còn gọi là Thiền Ba-la-mật – thiền ba-la-mật-đa, tức là thiền siêu việt, không còn lậu hoặc.
Phật biết rõ:
- Người này có dễ vào định không,
- Có dễ xuất định không,
- Loại định người ấy đang tu là định hữu lậu hay vô lậu.
Nếu người ấy đang tu bốn thiền (sơ, nhị, tam, tứ thiền), thì đó vẫn là định hữu lậu – tuy có phước nhưng vẫn còn nằm trong vòng sinh tử.
Nếu người ấy tu thiền Ba-la-mật, thì đó là định vô lậu, đưa đến giải thoát Niết-bàn.
4. Tri chư căn thắng liệt trí lực
Tri chư căn thắng liệt trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ căn cơ cao thấp của chúng sanh. Đức Phật với trí tuệ viên mãn, thấu suốt biết rõ từng căn cơ của chúng sanh:
- Lợi căn: là người có căn tánh lanh lợi, nhạy bén – gọi là thượng căn.
- Trung căn: căn tánh vừa phải, không quá bén nhạy nhưng cũng không chậm lụt.
- Độn căn: là người có căn tánh chậm lụt, khó hiểu lý sâu – gọi là hạ căn.
Phật rõ biết từng người một, không sai sót, nên Ngài biết rõ người ấy trong đời này có thể đạt đến quả vị nào.
Ví dụ:
- Phật biết người A Giả hiện tại với căn tánh như vậy, chỉ có thể chứng đắc Sơ quả Tu-đà-hoàn,
- Còn người A Ất thì đã tu đầy đủ Lục Ba-la-mật, chẳng bao lâu nữa sẽ chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tùy căn cơ như vậy, Phật sẽ phương tiện giảng pháp khác nhau:
- Với người lợi căn, Phật nói pháp một cách đơn giản, vắn tắt, họ nghe liền ngộ.
- Với người độn căn, Phật giảng rộng, nói nhiều cách, nhiều tầng lớp để khai mở dần dần.
- Có lúc Phật dùng lời nhu hòa, dễ nghe, từ tốn, để nhiếp phục tâm người.
- Có khi Phật dùng lời nghiêm nghị, mạnh mẽ, để hàng phục tâm cang cường, khó dạy.
Tất cả đều là do trí tuệ biết rõ căn cơ hơn kém của chúng sanh mà Phật khéo léo ứng cơ thuyết pháp, không bao giờ sai lệch, không có pháp nói vô ích.
Pháp Phật không phải một chiều, mà là ứng cơ mà nói, tùy người mà độ. Cho nên, khi nghe pháp, chúng ta cần xét lại căn cơ của chính mình, không nên so sánh, cũng không nên mong cầu nghe pháp cao mà bỏ qua căn bản. Tin sâu rằng Phật thuyết pháp vì mình, thì dù lời giản dị cũng là con đường thành Phật.
5. Tri chúng sanh chủng chủng hỷ ái trí lực
Tri chúng sanh chủng chủng hỷ ái trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ sở thích và khuynh hướng của chúng sanh. Đức Phật có trí tuệ thâm sâu, biết rõ mọi sở thích, khuynh hướng, ưa thích của từng chúng sanh đều khác nhau – không ai giống ai.
Ví dụ:
- Tôn giả A Nan thì ưa thích nghe nhiều, học rộng, là bậc đa văn đệ nhất.
- Tôn giả Ma-ha Ca Diếp thì ưa hạnh đầu-đà, sống đơn giản, khổ hạnh, ẩn cư trong rừng núi.
- Đề-bà-đạt-đa lại ưa danh tiếng, lợi dưỡng, ham địa vị và quyền lực.
- Tôn giả Xá Lợi Phất thì ưa quán chiếu trí tuệ, là bậc trí tuệ đệ nhất trong hàng Thanh Văn.
Phật đều thấy biết đúng như thật, không sai sót, rồi tùy thuận theo sở thích, căn tánh ấy mà giáo hóa, độ thoát họ.
Sở thích, tâm hướng mỗi người đều khác biệt – có người ưa bố thí, có người thích trì giới, có người chuyên về niệm Phật, có người nghiêng về thiền định…
Phật không ép buộc một khuôn mẫu, mà tùy thuận căn cơ, khuynh hướng, rồi khéo léo dẫn dắt – đó là trí lực lớn của Như Lai.
Người học Phật cũng nên biết mình ưa gì, hợp gì, để từ đó tu đúng pháp môn, không lạc hướng, không vọng cầu.
6. Tri chủng chủng giới trí lực
Tri chủng chủng giới trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ các cảnh giới sai biệt của chúng sanh. Đức Phật có trí tuệ thấu triệt, biết rõ tất cả các loài chúng sanh trong thế gian, tuy cùng sống trong một cõi, nhưng mỗi loài, mỗi người đều có cảnh giới tâm thức khác nhau – gọi là các cảnh giới sai biệt.
Cái gọi là “cảnh giới khác nhau”, thật ra là do tập khí, chủng tính, phiền não của chúng sanh khác nhau mà ra.
Ví như:
- Có người nặng lòng tham – tâm luôn dính mắc vào tài, sắc, danh, thực, thùy.
- Có người nặng sân hận – dễ nóng giận, không nhẫn chịu, hay oán trách.
- Có người si mê sâu nặng – không phân biệt đúng sai, lý lẽ điên đảo.
- Có người phiền não dày đặc, khó điều phục.
- Có người phiền não mỏng nhẹ, dễ tu, dễ tiếp nhận chánh pháp.
Tất cả những sai biệt ấy, Phật đều biết rõ như thật, không sai lầm, do đó biết rõ cần phải dùng pháp gì để hóa độ người nào, sao cho đúng lúc, đúng người, đúng cách.
Tập khí và nghiệp lực mỗi người mỗi khác, nên đường tu cũng không ai giống ai. Người học Phật cần quán sát kỹ mình thuộc loại nào, có thiên hướng gì, tập khí gì nhiều, phiền não nào nặng… từ đó chọn pháp tu thích hợp, mới mong chuyển hóa thật sự.
Phật dạy: “Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng”. Trên đường tu, biết rõ thân tâm mình, cũng chính là bước đầu vượt khỏi mê lầm sanh tử.
7. Tri nhất thiết chí đạo xứ trí lực
Tri nhất thiết chí đạo xứ trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ tất cả các con đường dẫn đến nơi sanh khởi
“Đạo” trong đoạn này có nghĩa là con đường dẫn đến nơi thọ sanh, là kết quả từ nghiệp đã tạo qua thân, khẩu, ý.
Phật biết rõ:
- Chúng sanh do thân, khẩu, ý tạo các nghiệp hữu lậu – tức là nghiệp còn dính mắc phiền não, chưa thoát khỏi sinh tử – thì sẽ rơi vào sáu đường luân hồi: cõi trời, cõi người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.
- Ngược lại, nếu chúng sanh tu hành các pháp lành thanh tịnh, như Lục Ba-la-mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ), hoặc tu theo Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo), thì sẽ đi vào con đường giải thoát, chứng đắc Niết-bàn, đến được bờ bên kia, lìa khỏi biển khổ sinh tử.
Đức Phật biết rõ mọi con đường do nghiệp dẫn khởi, biết chúng sanh sẽ tái sinh vào đâu, do nhân gì, quả gì, theo con đường nào, vào lúc nào, không điều gì sai lạc.
Tu hành không thể mù mờ, phải hiểu rõ nhân nào đưa đến quả nào, nghiệp nào dẫn mình về đâu.
Phật là bậc Giác ngộ toàn triệt, thấy biết rõ tất cả những chỗ đi về của chúng sanh, nên giáo pháp Ngài dạy không lạc một ly, người học cần vững tin mà hành trì.
8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực
Tri thiên nhãn vô ngại trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ bằng thiên nhãn vô ngại. Đức Phật có thiên nhãn thanh tịnh vô ngại, được thành tựu từ tứ đại (đất, nước, gió, lửa) thanh tịnh cấu tạo nên Phật thân.
Với thiên nhãn này, Phật có thể thấy rõ vô lượng vô biên thế giới trong mười phương, không bị chướng ngại.
Còn phàm phu dù có tu được thiên nhãn, cũng chỉ có thể thấy trong phạm vi nhỏ, nhiều nhất là thấy 4 đại thiên hạ – vẫn có giới hạn, không viên mãn.
Phật với thiên nhãn vô ngại, có thể:
- Thấy rõ chúng sanh thọ sanh ở nơi nào, tái sinh vào cõi nào.
- Thấy rõ chúng sanh lúc nào chết, chết ở đâu, chết vì nghiệp gì.
- Thấy rõ nhân duyên nào khiến họ tái sanh vào nơi đó, gặp cảnh giới đó.
- Thấy rõ hình dáng chúng sanh, đẹp hay xấu, đoan nghiêm hay xấu xí.
- Biết được:
- Do nghiệp gì mà được tướng mạo đoan chánh, dễ nhìn.
- Do nghiệp gì mà có thân hình xấu xí, hình dung khó coi.
Tất cả những điều này, Phật đều thấy biết rõ ràng, không chút mờ mịt, như nhìn vào bàn tay của chính mình.
Thiên nhãn của Phật là trí tuệ siêu phàm, thấy suốt nghiệp nhân – quả báo – tướng trạng – nơi sanh tử của tất cả chúng sanh.
Người học Phật nếu muốn cải đổi tướng mạo, vận mạng, nơi thọ sanh, thì phải tu nhân lành, sửa đổi nghiệp ác, vì tất cả đều từ nghiệp cảm ra – chẳng có gì ngẫu nhiên.
9. Tri túc mạng vô lậu trí lực
Tri túc mạng vô lậu trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ túc mạng vô lậu. Đức Phật có trí tuệ thù thắng, gọi là Túc Mạng Trí, lại là vô lậu trí – tức là trí tuệ không còn phiền não che lấp, hoàn toàn thanh tịnh.
Nhờ vào trí lực này, Phật có thể:
- Thấy biết rõ ràng nhân duyên trong vô lượng kiếp quá khứ của tất cả chúng sanh.
- Biết từng đời từng kiếp của mỗi người, từng tên gọi, từng hoàn cảnh sống, từng nhân quả đã tạo và đã chịu.
- Biết rõ:
- Đời ấy họ hạnh phúc hay đau khổ,
- Sống lâu hay yểu mệnh,
- Gieo nhân gì, chịu quả gì,
- Và các nhân duyên liên hệ phức tạp giữa các đời sống ấy.
Tất cả, Phật đều biết đúng như thật, không sai lệch mảy may. Người đời thường chỉ nhớ được việc hôm qua, thậm chí không rõ ràng cả đời này mình từng tạo nghiệp gì. Nhưng Phật thì thấy suốt vô lượng kiếp, biết rõ từng mắt xích trong luân hồi, do đó mới chỉ dạy đúng pháp để chúng sanh ra khỏi mê lầm.
Chúng ta hôm nay gặp khổ hay vui, được phước hay chịu họa – đều không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả từ nhân duyên trong vô lượng kiếp trước.
Người học Phật cần hiểu rõ: Muốn đời sau an vui, thì phải gieo nhân lành từ hôm nay. Muốn dứt luân hồi, thì phải phát tâm tu tập dứt trừ phiền não, chứng vô lậu trí như Phật.
10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực
Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực nghĩa là Trí lực biết rõ sự đoạn tận hoàn toàn các tập khí . Đức Phật có trí tuệ thấu suốt, biết rõ rằng tất cả tham – sân – si – phiền não và tập khí trong Ngài đã vĩnh viễn đoạn trừ, không bao giờ còn khởi lại.
Tuy nhiên, điều này thường dẫn đến một câu hỏi:
“A-la-hán cũng đã đoạn sạch tham, sân, si rồi – thì khác gì với Phật?”
Phật giải thích rằng:
A-la-hán tuy đã đoạn dứt ba độc (tham – sân – si) và các kiến hoặc, tư hoặc, nhưng các tập khí (thói quen tiềm ẩn từ quá khứ) vẫn chưa hoàn toàn dứt sạch.
Ví như:
Một hộp đựng hương đã lấy hết hương ra, nhưng mùi thơm vẫn còn lưu lại bên trong.
Hương tuy không còn, nhưng hương khí vẫn hiện hữu.
Tập khí của A-la-hán cũng giống như mùi hương ấy – không còn năng lực tạo nghiệp, nhưng vẫn hiện hành ở tầng sâu.
Ví dụ minh họa: Tập khí của A-la-hán vẫn hiện
Một lần nọ, đệ tử của Phật là Tôn giả Tỳ-lăng-già-bà-xá (Piṅgiyagavātsa) – người đã chứng A-la-hán quả – bị đau mắt.
Mỗi khi muốn khất thực, ngài phải đi ngang sông Hằng.
Sông Hằng lúc bấy giờ có thần nữ hộ trì, và mỗi khi đến bờ sông, ngài liền búng tay rồi lớn tiếng gọi:
“Con nhỏ kia! Ngưng nước!”
Ngay lập tức, dòng nước sông Hằng tách ra hai bên, ngài bước qua giữa dòng mà không ướt chân.
Thần nữ sông Hằng nghe vậy lấy làm phẫn nộ, đến bạch với Phật:
“Tôn giả ấy thường lăng mạ con, gọi con là ‘con nhỏ’!”
Phật gọi Tỳ-kheo đến, bảo ngài nên sám hối. Ngài liền chắp tay hướng về sông mà nói:
“Con nhỏ kia, đừng giận nữa! Nay ta sám hối với ngươi đây!”
Nghe xong, mọi người đều bật cười, vì sám hối mà vẫn gọi là “con nhỏ”.
Phật mới giảng giải:
“Tỳ-lăng-già-bà-xá trong năm trăm đời trước đều sinh trong dòng Bà-la-môn, rất kiêu ngạo, quen gọi người khác bằng giọng trên cơ như vậy.
Dù nay đã chứng quả A-la-hán, kiêu mạn đã đoạn, nhưng tập khí ngôn ngữ vẫn còn tồn tại.
Câu nói ấy không xuất phát từ kiêu mạn, mà chỉ là thói quen lâu đời còn lưu lại trong tâm thức.”
Từ đây chúng ta hiểu:
A-la-hán dứt phiền não, nhưng tập khí sâu dày thì chưa hoàn toàn diệt tận.
Sự viên mãn của Phật: Đoạn tận tập khí
Phật thì khác.
Phật không chỉ đoạn sạch phiền não, mà còn dứt tuyệt cả gốc rễ tập khí vi tế – không còn mảy may dư sót.
Nhờ đó, Phật mới được gọi là:
“Bậc Đại Giác Viên Mãn”, “Tự tại nơi pháp giới”, “Không còn vướng mắc sinh tử mảy may”.
Vì có thập trí lực viên mãn như vậy, Phật được xưng là bậc Vô Úy (không sợ hãi)
Nhờ trí tuệ toàn giác, thấy rõ tất cả pháp, nên trong mọi hoàn cảnh – dù có luận tranh, vấn nạn hay giáo hóa – Phật đều không hề lo sợ, không bị dao động, không phải suy tính lưỡng lự.
Đó gọi là “Tứ Vô Sở Úy” – bốn pháp không sợ hãi của Như Lai.
Do không có sở úy, nên Phật đủ năng lực lãnh đạo đại chúng, nhiếp phục ngoại đạo, khiến bao người quy ngưỡng, quy y Phật pháp, xuất gia tu đạo.
Lời kết
Mười trí lực này không ai có thể vượt hơn, cũng không ai có thể hủy hoại. Chúng là chứng tích của sự giác ngộ viên mãn, là sức mạnh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là nền tảng để giáo hóa vô biên chúng sanh một cách không mệt mỏi.
Chúng sanh phát tâm Bồ Đề, học theo Phật, cũng cần tu hành theo trí huệ, đoạn hoặc, lìa mê, phát tâm rộng lớn, thì mới có thể đi đến con đường thành Phật không thoái chuyển.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !
Nam Mô A Di Đà Phật !
Xem thêm các bài viết Phật Pháp liên quan khác:

