Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Tôn giả A Nan thưa hỏi: “Từ khi Đức A Di Đà thành Phật đến nay đã bao lâu?” Đức Thích Tôn đáp:
“Từ khi Ngài thành Phật đến nay đã trải qua mười kiếp.”
Tuy nhiên, về thời điểm thành Phật của Đức A Di Đà, trong kinh điển lại có nhiều cách lý giải. Có nơi dẫn lời Phật nói là “thập kiếp”, có chỗ lại nói là “thời gian lâu xa vô lượng – tức ‘cửu viễn’ .
Vậy nên hiểu như thế nào để dung thông cả hai cách nói?
Xin thưa: Cả “mười kiếp” lẫn “lâu xa vô lượng” đều là thật nghĩa. Gọi là “Thập cửu lưỡng thật” – tức cả hai đều chân thật.
Trong Kinh Đại Bổn (Vô Lượng Thọ Kinh), văn kinh rõ ràng nói là “mười kiếp”, nhưng vì sao lại có thêm cách nói “lâu xa vô lượng”? Dưới đây Shop Tú Huyền xin phép được giải thích dẫn kinh văn làm chứng minh cho nghĩa “lâu xa”.
Chứng cứ về nghĩa “Lâu xa vô lượng”
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa – Phẩm Hóa Thành Dụ, có chép:
“Thời quá khứ, nơi vô lượng kiếp như số vi trần của ba ngàn đại thiên thế giới, có đức Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng. Lúc Ngài chưa xuất gia, có mười sáu vị vương tử. Khi Phật thành đạo, mười sáu vương tử này cũng phát tâm tu hành, chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề…
Trong số ấy, có hai vị thành Phật ở phương Tây, một là A Di Đà, vị thứ mười sáu chính là Ta – Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Nghĩa là: từ ba ngàn đại thiên vi trần kiếp về trước, đã có Đức Phật Đại Thông Trí Thắng xuất thế, lúc ấy Đức A Di Đà là một trong mười sáu vị vương tử. Như vậy, Phật A Di Đà đã tu hành và chứng đạo từ thời lâu xa vô lượng kiếp.
Cho nên, trong lời sớ giải Kinh A Di Đà của Luật sư Nguyên Chiếu (triều Tống), có ghi:
“Căn cứ vào Kinh Pháp Hoa, vào thời Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, A Di Đà là một trong mười sáu vương tử. Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật đã trải qua vô lượng vi trần kiếp, thì A Di Đà há chẳng cũng trải thời gian lâu xa ư?”
Kinh Lăng Nghiêm cũng xác chứng A Di Đà là Cổ Phật
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 5, Chương Đại Thế Chí, Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát có nói:
“Con nhớ thuở xưa, vào vô số kiếp như số cát sông Hằng, có một Đức Phật ra đời, hiệu là Vô Lượng Quang. Trong một kiếp ấy có mười hai đức Như Lai xuất thế kế tiếp nhau, vị Phật sau cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang.”
Đối chiếu đoạn này với phần nói về mười hai danh hiệu quang minh của Phật A Di Đà trong Kinh Đại Bổn, chúng ta thấy rõ: Đức Phật Vô Lượng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang, v.v… chính là A Di Đà Phật.
Như vậy, từ các kinh văn dẫn trên, có thể khẳng định rằng:
Đức A Di Đà là “Cổ Phật đã thành từ vô lượng kiếp trước” – tức “Cửu viễn thực thành”.
Giải nghĩa “Thập kiếp” được nói trong Kinh Vô Lượng Thọ
Vậy, câu “thập kiếp” được chép trong bản kinh này nên hiểu như thế nào? Có hai cách giải thích được các bậc cổ đức đưa ra, gọi là hai thuyết:
“Mười kiếp ứng cơ” và “Mười kiếp thường nói”.
1. Thập kiếp ứng cơ
Chữ “ứng cơ” nghĩa là ứng hợp căn cơ của chúng sanh.
Mặc dù A Di Đà Phật đã là Cổ Phật thành tựu từ lâu xa vô lượng kiếp, nhưng vì thời gian quá xa vời, khiến cho chúng sanh thời mạt pháp sinh tâm nghi ngờ, khó tin nhận.
Vì vậy, để thuận theo căn cơ và khiến chúng sanh dễ tin, dễ phát nguyện vãng sanh, Đức Phật mới thị hiện hình ảnh Bồ Tát Pháp Tạng phát nguyện tu hành, rồi thành Phật cách đây mười kiếp, hầu tiếp dẫn chúng sanh.
Hiểu như vậy gọi là “mười kiếp ứng cơ” – tức Phật vì chúng sanh mà thị hiện thành Phật lần nữa, dù thực tế Ngài đã thành Phật từ lâu xa.
2. Thập kiếp thường nói
Chữ “Thập” là con số viên mãn thường dùng trong kinh điển (như mười phương, mười nguyện, thập lực…).
Vì vậy, “thập kiếp” cũng là cách nói tượng trưng cho một thời gian viên mãn, chứ không nhất thiết là mười kiếp chính xác về số lượng thời gian.
Phật A Di Đà: Cổ Phật và Thập Kiếp là Một Thể
Như vậy, từ hai cách giải trên, ta hiểu rằng:
Phật A Di Đà vốn là cổ Phật đã thành từ vô lượng kiếp, và “mười kiếp thành Phật” là sự thị hiện phương tiện để tiếp độ chúng sanh.
Ngài hết lần này đến lần khác, liên tục hiện thân phát nguyện – tu hành – thành Phật, chỉ vì muốn cho tất cả chúng sanh đều có thể vãng sanh và thành Phật.
Chính như trong Kinh Trang Nghiêm (Kinh Vô Lượng Thọ, bản dịch khác) có dạy rằng:
“Đức Phật Như Lai, đến mà không từ đâu đến, đi mà chẳng hề rời đi, không sinh không diệt, chẳng thuộc quá khứ, hiện tại, hay vị lai;
Chỉ vì muốn hoàn nguyện độ sinh, nên hiện đang ngự tại Tây Phương, hiển hiện đã thành Phật được mười kiếp.”
Tổng kết
Qua lời kinh này, chúng ta càng thấu hiểu tấm lòng tha thiết và khổ nhọc của Phật. Phật không hề bị sinh – diệt, đến – đi, mà là vì đại nguyện độ sinh, nên thị hiện trong cõi Tây Phương, khiến chúng sanh dễ tin tưởng, dễ phát nguyện vãng sanh.
Quả thật, Đức A Di Đà vì thương xót chúng sinh mà nhiều lần thị hiện phát nguyện – thành Phật – tiếp độ, nguyện lực không gián đoạn, từ vô thủy đến nay vẫn không ngừng nghỉ.
Xem thêm bài viết Phật Pháp liên quan khác:
- Phân biệt nguyện lực và giáo lý giữa Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà.
- 101 Lợi ích Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà
- Một lòng niệm Phật Di Đà: Chìa Khóa Để Đến Tịnh Độ.
- kinh A Di Đà là kinh gì ? Nguồn gốc – Ý nghĩa và Lợi Ích Của Việc Y Theo Kinh A Di Đà Để Hành Trì
- Ánh sáng vô lượng quang của Đức Phật A Di Đà
- Vì sao nên mở tiếng niệm Phật trong nhà cả ngày và đêm ?
- Thắc mắc nên niệm A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?
- Nên niệm phật 4 chữ hay 6 chữ ?
- Thế nào là người niệm phật chân chính?
- Chọn Lựa Giữa Ta Bà và Cực Lạc: Quyết Tâm Không Thoái Chuyển
- Niệm Phật và Trì Chú khác nhau thế nào ? Nên niệm Phật hay trì chú, Phật tử nên biết.

