Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát là ai ? Công hạnh của Bồ-tát Địa Tạng.

Đại nguyện địa tạng vương bồ tát

Tín ngưỡng Địa Tạng Vương Bồ Tát là một hình thái tín ngưỡng dân gian phổ biến tại các quốc gia châu Á. Do trong tiền kiếp Ngài đã từng cứu mẹ đang chịu khổ trong địa ngục, và phát đại nguyện sẽ cứu độ tất cả những ai đang chìm đắm trong khổ nạn, đặc biệt là chúng sanh nơi địa ngục. Chính nhờ tâm đại hiếuđại nguyện ấy, Ngài được người đời vô cùng tôn kính và ngưỡng mộ.

Tại Trung Hoa, Việt Nam, Ngài Địa Tạng được tôn xưng cùng với Văn Thù, Phổ Hiền và Quán Âm, hợp thành danh xưng Tứ Đại Bồ Tát.

Bởi Ngài đã lập đại nguyện:
“Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ Đề.”

Nên Ngài trở thành chỗ nương tựa duy nhất cho người đời khi nghĩ về cảnh giới sau khi lìa đời, là nơi gởi gắm hy vọng giải thoát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong những vị Bồ Tát quan trọng được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á và thường được hình dung như một tỉ-khâu phương Đông. Ông là một trong Sáu vị Bồ tát quan trọng của Phật giáo Đại thừa, cùng với năm vị khác bao gồm Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và Di Lặc Bồ tát.

Đặc biệt, Địa Tạng Bồ-tát được biết đến qua lời nguyện cứu độ mọi sinh linh trong chuỗi luân hồi, từ thời điểm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn cho đến khi Bồ Tát Di Lặc xuất hiện. Ngài cam kết không bước lên con đường thành Phật cho đến khi cõi địa ngục trở nên trống rỗng, và đều đặn nguyện thề không chứng Phật quả nếu địa ngục vẫn còn chứa đầy (Địa ngục không trống, Thề không thành Phật). Vì vậy, Ngài Địa Tạng thường được coi là vị Bồ Tát chăm sóc chúng sinh dưới địa ngục và là giáo chủ của cõi U Minh.

Sự Hình Thành Danh Hiệu “Địa Tạng Vương Bồ Tát”

Theo truyền thuyết, tín ngưỡng Địa Tạng Vương Bồ Tát có nguồn gốc từ Ấn Độ, khởi đầu là sự sùng bái vị Thần Địa (Địa Thần). Khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa, vào thời Sơ Đường, Đại sư Huyền Trang đã dịch bộ Kinh Thập Luân, từ đó hình tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát bắt đầu lan truyền trong dân gian.

Trong bản kinh dịch “Địa Tạng Thập Luân Kinh”, có đoạn mô tả:
“An nhẫn bất động như đại địa, tĩnh lự thâm mật như bí tạng”
(tạm dịch: “An nhẫn, không lay động như mặt đất rộng lớn; tư duy tĩnh lặng, sâu xa như kho tàng bí mật”).

Vì vậy, Ngài được tôn danh là Địa Tạng, mang ý nghĩa rằng:
Tất cả núi cao, suối chảy, hoa cỏ, chim muông – vạn pháp thế gian – đều nương vào đất mà sinh tồn. Cũng như thế, đại nguyện của Bồ Tát Địa Tạng vững chãi và bao dung như đại địa, có thể gánh vác tất cả chúng sinh, dùng muôn pháp phương tiện để giúp họ vượt thoát khổ đau, từ bờ mê đến bến giác.

Danh xưng “Địa Tạng Vương Bồ Tát” đầy đủ, bắt đầu xuất hiện trong Kinh Phật Thuyết Thập Vương, khi người đời hợp nhất hình tượng Bồ Tát Địa Tạng với Thập Điện Diêm Vương, nhấn mạnh đại bi bản nguyện của Ngài, được sự hộ trì và cộng tác của Diêm Vương cùng chư vị Đại Quỷ Vương.

Từ đó, Địa Tạng Vương Bồ Tát được tôn xưng là Giáo Chủ của cõi âm giới (U Minh giới) – không chỉ trợ duyên phúc lạc nơi thế gian, mà còn là nơi nương tựa trọng yếu giúp chúng sinh sau khi mất, hướng về con đường giải thoát rốt ráo.

Ngày Khánh Đản và Hành Trình Thành Tựu của Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát đã thành tựu như thế nào? Đó là nhờ phát nguyện gì mà có thể tích tụ công đức vĩ đại đến vậy?

Vào khoảng năm 629 sau Công nguyên, Ngài Địa Tạng giáng sinh trong hoàng tộc của vương quốc Tân La (thuộc bán đảo Triều Tiên ngày nay), tục danh là Kim Kiều Giác. Khi 24 tuổi, Ngài xuất gia tu đạo, pháp hiệu là Địa Tạng, cũng thường được gọi là Kim Địa Tạng.

Sau đó, Ngài đến Cửu Hoa Sơn (Trung Quốc) chuyên tu tịnh hạnh suốt 75 năm. Đến năm 99 tuổi, Ngài thị tịch, thân xác không hư hoại, trở thành nhục thân bất hoại, được hậu thế tôn xưng là hóa thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Ngày Ngài viên tịch cũng được xem là ngày Khánh Đản của Bồ Tát Địa Tạng.

Từ đó về sau, hàng Phật tử mỗi năm đều cử hành lễ Khánh Đản Địa Tạng Vương Bồ Tát vào ngày 30 tháng Bảy âm lịch, rộng mời đại chúng hữu duyên cùng tham dự, cầu nguyện được Bồ Tát gia hộ, thân tâm an ổn, phúc lành tròn đầy.

Hành Trình Tu Chứng qua Nhiều Đời Nhiều Kiếp

Theo Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Bồ Tát Địa Tạng trải qua nhiều đời tiền thân như: cô gái Bà-la-môn, cô gái Quang Mục và một vị quốc vương – đây đều là những tiền kiếp quan trọng, đặt nền móng cho đạo quả Bồ Tát của Ngài. Sau đây là tóm lược vài mẫu chuyện:

Quang Mục Cứu Mẹ – Tấm lòng hiếu hạnh của Địa Tạng Bồ Tát

Ngày xưa, có một cô gái hiền lành, hiếu thảo tên là Quang Mục, chăm sóc cha mẹ rất tận tụy. Nhưng mẹ cô lại không tin Tam Bảo, còn ưa thích ăn trứng cá và sát sinh rất nhiều. Vì tạo ác nghiệp nên sau khi mất, bà bị đọa vào địa ngục chịu khổ hình.

Quang Mục vì quá đau lòng, phát tâm bán hết tài sản trong nhà để làm việc bố thí, hồi hướng công đức cho mẹ. Nhờ năng lực ấy, mẹ cô được siêu thoát khỏi địa ngục, sinh lên cõi trời thọ hưởng phúc lạc.
Cô gái Quang Mục ấy chính là tiền thân của Bồ Tát Địa Tạng.

Lời Nguyện của Vị Quốc Vương

Trong một đời khác, Bồ Tát là quốc vương của một nước nhỏ, và kết tình bạn với một quốc vương nước láng giềng. Một hôm, cả hai cùng phát đại nguyện.
Vị vua kia phát nguyện: “Nguyện mau thành Phật để độ khắp muôn dân.”
Nhưng vị vua là tiền thân của Địa Tạng lại nghĩ:
“Chúng sinh vẫn còn chịu khổ đau, nếu ta sớm thành Phật thì có ý nghĩa gì?”
Vì vậy, Ngài phát nguyện sau cùng mới thành Phật, đợi đến khi chúng sinh đều được độ thoát.

Kết quả, vị vua nước kia chứng thành Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, còn vị quốc vương nguyện sau cùng thành Phật ấy chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát và Tôn Giả Mục Liên – Đồng Hành Cứu Độ

Vì sao cả Địa Tạng Vương Bồ Tát và Tôn Giả Mục Liên đều có hình tướng xuất gia, tay cầm tích trượng?

Tương truyền rằng:
Tôn giả Mục Liên vì không nỡ nhìn mẹ mình chịu khổ trong địa ngục, nên đã tinh tấn tu hành, hành thiện tích đức, lấy hiếu tâm làm căn bản. Tấm lòng ấy cảm động đến Địa Tạng Bồ Tát, khiến Ngài phát tâm trợ duyên cùng Mục Liên, cứu độ mẹ ông và tất cả chúng sinh chịu khổ.

Vì lý do đó, trong nhiều ngôi chùa thờ Địa Tạng, người ta thường thờ chung cả Địa Tạng Vương Bồ Tát và Tôn Giả Mục Liên.

Cả hai đều mang hình tướng sa môn (tu sĩ Phật giáo), tuy nhiên có thể phân biệt:

  • Địa Tạng Vương Bồ Tát thường cưỡi Đề Thính – linh thú có khả năng nghe khắp mười phương.
  • Tôn Giả Mục Liên thì ngồi trên voi, kỳ lân, hoặc sư tử.

Ý nghĩa tụng kinh địa tạng và khi nào tụng kinh địa tạng ?

Kinh địa tạng là nói câu nói tắt của dân gian, tên đầy đủ của bộ kinh này là : “KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC.” và được dịch rõ ra nói về bổn nguyện, công đức của Bồ Tát Địa Tạng.

Địa tạng được tượng trưng cho TÂM, và chính cái TÂM mới luôn xuât được những thể nguyện của chính mình và chính thể nguyện đó mới sanh ra các công đức. Cho nên được gọi trọn vẹn đầy đủ là Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Công Đức.

Nếu không có bổn nguyện thì chúng ta sẽ không làm. Nguyện là ước cái điều mà chúng ta phát nguyện. Nhờ chính phát nguyện đó mới sanh ra công đức.

Vậy kinh mà trở về nguồn tâm của mình để mình lập nguyện, để mình tạo công đức có cần thời gian nào để tụng không hay có thể tụng bất cứ lúc nào. Vì vậy , bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào, thời lúc nào cũng có thể tụng kinh địa tạng.

Đọc kinh địa tạng vương bồ tát bổn nguyện mở ra thì thấy toàn là nói những chuyện địa ngục, chuyện tội lỗi,… Dạ Thưa đại chúng, nếu mà mình nhận sự thôi, mình tu cũng tốt. Còn nếu mà mình nghe quý Thầy giảng cái lý sâu màu của Địa Tạng để chúng ta hiểu được tường tận giữ sự và lý của kinh địa tạng thì chúng ta trọn vẹn công đức.

Công đức của chúng ta ở đây là gì ? chúng ta thể hiện sự nhưng mà chúng ta hiểu được cái lý. Mà lý đã hiểu rồi chẳng những không bỏ sự.

Sự là gì ? Sự ở đây chính là hình tướng, là sự việc

Lý là gì ? Lý trong kinh địa tạng có nghĩa là ý nghĩa thâm sâu, nếu chúng ta hiểu lý mà chúng ta không bỏ sự thì chừng đó có phải là thật sự đúng là công đức bổn nguyện không ?

Ví dụ : Mình cúng nước trên bàn thờ chẳng qua là 1 cái biểu tượng, nước là tượng trưng cho thanh lương, trong sạch, định tĩnh. Cho nên cúng chung nước trên bàn thờ để nhắc nhở mỗi người chúng ta phải luôn luôn trong sạch, vắng lặng như nước.

Nếu hiểu được cái lý đó, ôi thôi vậy dẹp khỏi cúng, chỉ cần biến tâm ta tịnh được rồi ? Nếu mình hiểu được lý và mình không bỏ sự. Mình để chung nước để hiển sự, để cái ly nước đó, để làm cái biểu hiện, biểu thị cho sự, để có cơ hội để chỉ ly nước mình sẽ nói lý cho người khác nghe.

Tại vì nếu chúng ta không bày ly nước, người ta không khởi tâm thăc mắc tại sao phải cúng nước, nếu không cúng nước thì làm sao có cơ hội giải thích cho người ta nghe, đúng không ?

Như vậy chúng ta hiểu lý mà chúng ta không bỏ sự, chừng đó chúng ta lý sự liên viên, mà lý sự thì công đức trọn vẹn bổn nguyện.

Địa tạng : Địa là đất, Tạng là chứa mà đất thì phải chứa, mà đất này chính là đất tâm. Đức tâm của mình chứa thiện, chứa ác, chứa đủ tất cả mọi hạt giống nhưng mà nhờ bổn nguyện, cho nên dù bất cứ hạt giống nào gieo vào trong tâm, mình cũng biến nó ra thành những hạt giống tốt hết.

Như vậy trong kinh địa tạng nói về sự thì mình hành sự cũng tốt, nhưng mà mai chiều kia mình hiểu được cái lý rồi vẫn không bỏ sự. Nhưng mà bây giờ chúng ta hành sự và có lý cho nên dẹp nó đi vì hoàn cảnh nào đó cũng không thấy thiếu thốn, để đây cũng không phải là dư.

Khi chúng ta đã hiểu được lý và sự rồi , chúng ta du nhập với tất cả mọi nơi mà cái này là lý của Kinh Hoa Nghiêm. Trong kinh Hoa Nghiêm nói 4 chuyện : ” Sự Sự Vô Ngại, Lý Sự Vô Ngại” khi mà chúng ta lý vô ngại, sự vô ngại, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại đó là tâm chúng ta dung nhiếp được hết.

Vô ngại là gì ? Khi chúng ta thông suốt được rồi, chúng ta hài hòa, chúng ta hội nhập với cả pháp giới này, với tất cả việc làm này sẽ không có gì trở ngại hết.

Trở về lại Kinh Địa tạng cho câu hỏi khi nào tụng kinh địa tạng ? xin trả lời là bất cứ lúc nào cũng có thể tụng kinh địa tạng, nói 1 cách khác địa tạng chính là trở về với tâm. Trong kinh địa tạng được mở đầu 1 cái chuyện là đại hội vân tập, tất cả vân tập là ở cõi trời đao lợi.

Như vậy Phật, Bồ tát, mọi người, quỷ thần đều có mặt trong pháp hội đó. Đó chính là giây phút mọi người nên hướng thượng hết. Tất cả các loài đều hướng thượng, cho nên tất cả đều có mặt ở cõi trời đau lợi.

  • Địa là dày chắc, Tạng chứa đủ
  • Cõi nước phương Nam nổi mây thơm
  • Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ
  • Mây xinh, mưa báu số không lường.
  • Lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường
  • Người, trời bạch Phật: nhân gì thế?
  • Phật rằng: Địa Tạng đến thiên đường!
  • Chư Phật ba đời đồng khen chuộng
  • Mười phương Bồ-tát chung tin tưởng
  • Nay con sẵn có thiện nhân duyên
  • Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng.

Phật, Bồ Tát đều tin tưởng quy y với địa tạng, như vậy có phải là quy y với tâm không ạ ? Nếu tu mà không trở về với tâm thì chúng ta không làm được điều gì hết. Cho nên bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể tụng kinh địa tạng và không cần đợi tới cầu siêu mới tụng kinh địa tạng, cầu an cũng được và cầu bất kỳ chuyện gì mà chúng ta tụng, chúng ta hiểu được thì rất tốt. Biết tránh ác làm lành là đúng bổn nguyện của mình rồi

Xem thêm : Sách Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Trọn Bộ (Bìa Mềm)

Tại sao các chùa từ mùng 1 đến rầm thì tụng kinh vu lan và sau rầm tháng 7 tụng kinh đại tạng, sao không tụng kinh khác mà các chùa đều tụng như vậy ?

Trước hết nói các chùa thì phải xác định là các phật giáo theo Bắc Tông, còn các chùa theo Phật Giáo Nam Tông không có tụng vì bên Nam Tông không có kinh địa tạng, bên đó có 1 phần kinh riêng còn băc tông có 1 quyển kinh địa tạng theo phật giáo đại thừa thì có kinh địa tạng và các chùa theo Phật Giáo Đại Thừa đều tụng.Tại sao phải tụng ở thời điểm đó , có 2 lý do

  • Mùa vu lan còn được gọi là mùa xá tội vong nhân, mùa này mọi người đều hỷ sả cho nhau, lấy cái hình ảnh địa ngục làm mẫu làm chuẩn, sả hết cái tội nhân dưới địa ngục thì mùa đó chúng ta đây cũng thực tập để tha thứ tất cả những ai lầm lỗi của mình như vậy mới đúng là tinh thần làm lễ vu lan báo hiếu. Nếu còn hận người này, giận người kia thì chúng ta vẫn chưa sá tội vong nhân.
  • Vì mua vu lan để mình cầu siêu cho ông bà tổ tiên cho nên mùng 1 đến rấm tháng 7 đó là mùa vu lan chúng ta tụng vu lan và sau vu lan rồi chúng ta vẫn còn trong mùa báo hiếu cho nên tụng địa tạng để cầu an , cầu siêu cho ông bà , tổ tiên còn tại thế hoặc qua nạn

Cái ý thứ thứ 2 là vì trong ngày 30 tháng 7 âm lịch là ngày vía của bồ tát địa tạng vì vậy chúng ta tụng kinh địa tạng vào dịp đó, trước là cầu nguyện cho ông bà, gia đình, 2 là kỷ niệm của bồ tát địa tạng vương. Vì vậy đó là lý do tại sao các chùa bắc tông thường tụng kinh địa tạng từ rầm cho tới 30 vì 30 tháng 7 là vía của bồ tát địa tạng.

Công hạnh của Bồ-Tát Địa Tạng

Bồ-Tát Địa Tạng là một vị Bồ-tát có mối liên kết mặt tâm sâu sắc với chúng sanh trong thế giới Ta-bà. Ông được giao trọng trách làm giáo chủ cõi Ta-bà trong khoảng thời gian Đức Thế Tôn nhập diệt, khi Bồ-tát Di Lặc vẫn chưa thành Phật.

Trong Kinh Địa Tạng, phần Phân Thân Tập Hội thứ 2, Đức Phật Thích Ca, trước khi nhập Niết-bàn, đã truyền lời phó chúc cho Địa Tạng: “Địa Tạng, hãy ghi nhớ! Hôm nay, Ta ở cung trời Đao Lợi, trong đại hội có tất cả chư Phật, trời, rồng, bát bộ và nhiều hơn nữa, đến trăm ngàn muôn ức không thể nói. Đem trời, người và tất cả các chúng sanh chưa thoát khỏi tam giới, chúng còn ở trong nhà lửa, Ta giao phó cho ông. Hãy đảm bảo rằng chúng sanh không rơi vào con đường ác dù chỉ là trong một ngày đêm.” Lời tiên tri đó đã củng cố vị thế và niềm tin vững chắc của Đức Phật đối với Bồ-tát Địa Tạng, vì Ngài biết rằng trong giai đoạn “tiền Phật-hậu Phật” này, khi Phật pháp ngày càng suy tàn và chúng sanh ngày càng khó độ, chỉ có một Bồ-tát như Địa Tạng, với tâm nguyện và sức mạnh kiên cường, mới có thể chịu trách nhiệm giáo hóa chúng sanh.

Danh xưng “Địa Tạng” được giải thích trong các kinh luận là biểu tượng cho tâm nguyện và ý chí kiên cường của Bồ-tát. Trong Kinh Tựa Địa Tạng, có nói: “Địa là vững chắc, Tạng chứa đủ.” Trong Thập Luận của Địa Tạng, mô tả: “An nhẫn bất động như đại địa, vắng lặng sâu kín giống như kho tàng, vì vậy được gọi là Địa Tạng.” Kinh Phương Quảng Thập Luận thêm rằng: “Địa Tạng là kho báu giấu kín trong lòng đất.” Tóm lại, danh xưng Địa Tạng ám chỉ rằng trong tâm hồn có chứa vô số báu vật Phật pháp, có thể mang lại vô số công đức cho chúng sanh.

Bồ-tát thường hiện thân ở thế giới Ta-bà dưới nhiều hình tướng khác nhau để giáo hóa chúng sanh. Tuy nhiên, chúng ta thường biết đến Địa Tạng qua hình ảnh của một Tỳ-kheo, thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh, đứng hoặc ngồi trên con Đế Thính. Lý do Ngài hiện thân ở dạng Tỳ-kheo là vì mục tiêu chính của Ngài là cứu độ chúng sanh khỏi cảnh giới sanh tử, do đó hình ảnh của Ngài thường được liên kết với việc giải thoát và xuất gia. Tay phải cầm trượng, trên trượng có mười hai khoen, thể hiện việc sử dụng pháp Thập Nhị Nhân Duyên để giáo hóa chúng sanh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu tượng cho trí tuệ. Bồ-tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng mọi nơi, giúp chúng sanh thoát khỏi bóng tối. Con Đế Thính, là linh thú, biểu trưng cho việc Ngài đã tinh tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức và đạt thành tựu cảnh giới thiền định.

Kinh Địa Tạng đề cập đến tiền thân hành Bồ-tát đạo của Ngài. Trong một kiếp, Bồ-tát là con của một vị trưởng giả, nguyện vọng trở nên giống như chư Phật về hình thể. Ngài thề nguyện giải thoát tất cả chúng sanh khỏi khổ nạn. Trong một kiếp khác, Ngài làm một cô gái trong dòng Bà La Môn, mẹ Ngài không tin vào nhân quả. Bồ-tát Di Lặc, vì muốn cứu độ mẹ, đã lòng thành cầu thỉnh Phật cứu mẹ. Còn trong một kiếp khác, Ngài làm vua của một nước nhỏ, cùng với vua của một nước lớn, cả hai vua đều nhận ra tình trạng xấu đẹp của nhân dân và thề nguyện giải thoát khỏi khổ nạn.

Hoặc Ngài có thể xuất hiện dưới hình dạng của cô gái Quang Mục, cầu nguyện để cứu độ mẹ thoát khỏi địa ngục. Những tiền thân này khiến cho chúng ta thấy rõ nguyện lực tốt đẹp và vĩ đại của Bồ-tát Địa Tạng. Hạnh nguyện nổi bật của Ngài bao gồm hai điểm chính: lòng hiếu đạo và nguyện lực độ tận cảnh giới chúng sanh.

Pháp Bảo Cứu Độ Chúng Sanh của Địa Tạng Vương Bồ Tát

Bạn có biết pháp bảo cứu độ chúng sanh của Địa Tạng Vương Bồ Tát là gì chăng? Những pháp bảo ấy có công năng nhiệm mầu ra sao?

Ngọc Minh Châu Trong Lòng Bàn Tay – Ánh Sáng Chiếu Khắp Đại Thiên Thế Giới

Địa Tạng Bảo Châu (tiếng Phạn: Cintā-maṇi), còn gọi là Ma-ni bảo châu – là viên ngọc sáng rực trong tay Địa Tạng Bồ Tát. Khi viên ngọc phát ánh hào quang, ánh sáng ấy lan tỏa đến đâu liền có thể tiêu trừ mọi bệnh tật, khổ đau, tai ách cho chúng sanh. Đồng thời giúp họ phát sanh trí tuệ lớn, phước đức lớn, tạo nên vô lượng công đức và cát tường thù thắng.

Kim Tích Trượng Trong Tay – Rung Động Mở Cửa Địa Ngục

Theo Kinh Đắc Đạo Đề Thăng Tích Trượng, chữ “tích” nghĩa là nhẹ nhàng, còn “trượng” là gậy – tượng trưng cho năng lực trừ phiền não, vượt thoát tam giới. Nói một cách dễ hiểu, tích trượng giúp dứt trừ ngũ dục, diệt tận tam độc (tham, sân, si), khai phát trí huệ, đồng thời có khả năng tiêu tai giải nạn, trấn trạch an cư.

Tích trượng cũng là biểu tượng cho uy lực Phật pháp có thể rung chuyển và mở toang cánh cửa địa ngục, khiến mọi loài chúng sanh trong ác đạo đều được cơ duyên thoát khổ, hướng về giải thoát.

Thần Khuyển Diệu Âm – Cưỡi Lưng Mà Hành Hóa

Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát thường được miêu tả cưỡi trên lưng một thần khuyển màu trắng, gọi là Đề Thính – tức “lắng nghe một cách thấu đáo”. Loài chó vốn nổi tiếng trung thành, do đó được Bồ Tát thu nhận làm tọa kỵ, cùng Ngài hành hóa khắp cõi.

Truyền thuyết kể rằng, Đề Thính là một loài thần thú có khả năng kỳ diệu: ngồi yên có thể nghe xa tám trăm dặm, nằm nghiêng tai có thể nghe xa ba ngàn dặm, thấu tỏ Phật lý, phân biệt chánh tà. Người ta xem Đề Thính là biểu tượng của điềm lành, mang theo khả năng trừ tà, hộ pháp và hỗ trợ Bồ Tát trong hạnh nguyện độ sanh.

Xem thêm bài viết liên quan:

0/5 (0 Reviews)