Tam Quy, Ngũ Giới và Thập Thiện là nền tảng căn bản của người học Phật, là ba bậc tam cấp dẫn dắt chúng sanh từ phàm phu bước vào cửa thánh. Đây không chỉ là những điều răn dạy mang tính hình thức, mà chính là con đường đưa thân tâm quy ngưỡng Tam Bảo, giữ gìn giới hạnh, nuôi dưỡng lòng từ và chuyển hóa nghiệp lực. Người Phật tử tại gia hay xuất gia, nếu khéo thọ trì, thực hành trọn vẹn ba pháp này thì sẽ vun bồi căn lành, gieo trồng phước đức, tự lợi lợi tha, tiến tu đạo quả.
TAM BẢO TRONG ĐẠO PHẬT LÀ GÌ?

Tam Bảo chính là Phật, Pháp và Tăng.
Chữ “Bảo” nghĩa là quý báu, có công năng lớn lao, giống như các báu vật thế gian. Khi chúng ta có được chúng thì đời sống vật chất không còn phải lo nghĩ. Những thứ như bảy báu thế gian – vàng, bạc, lưu ly, mã não… – chỉ có thể giải quyết những nhu cầu vật chất của con người.
Tuy nhiên, nỗi khổ sinh tử luân hồi, thì 7 báu thế gian không thể cứu được. Trước nỗi khổ lớn lao này, học thuật, khoa học, triết học hay các tôn giáo thế gian cũng không thể giải quyết rốt ráo. Vì vậy, chư Phật Bồ Tát xuất hiện trong đời để chỉ dạy phương pháp giải thoát, và căn bản nhất trong các phương pháp ấy chính là quy y Tam Bảo.
- Phật nghĩa là “giác ngộ”, tức là giác mà không mê.
- Pháp là chánh pháp, tức là chánh tri chánh kiến, không phải tà tri tà kiến. Khi chánh kiến hiện tiền thì tà kiến sẽ tự tiêu trừ, không còn chỗ nương tựa.
- Tăng nghĩa là thanh tịnh, tức là 6 căn thanh tịnh, không nhiễm một trần, được gọi là tịnh mà không nhiễm.
Ba điều này là căn bản pháp tu trong Phật giáo. Từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành Phật, tuyệt đối không thể rời xa ba nguyên lý này.
3 điều này được gọi là Tam Bảo, vì có công năng to lớn, lợi ích vô cùng, giúp chúng ta phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, đoạn dứt phiền não, vượt thoát biển khổ sinh tử, chứng đắc Bồ đề và Niết bàn. Đó là những điều mà không có báu vật nào trong thế gian có thể sánh được, nên gọi là Tam Bảo.
Khi mới học Phật, ai cũng cần quy y Tam Bảo. Quy y là gì?
- Quy là quay về – quay về từ trong mê muội, trở về với sự giác ngộ.
- Y là nương tựa – nương tựa vào giác ngộ.
Trước kia, kiến thức và tư tưởng của chúng ta là tà vạy, nay quay đầu trở lại, quy y với chánh tri chánh kiến.
Trước kia, tâm của ta nhiễm ô, đắm trước vào ngũ dục và lục trần; nay quay đầu trở lại, quy y thanh tịnh.
Từ khi mới phát tâm cho đến khi chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, bất luận tu theo pháp môn nào, cũng không thể rời xa nguyên tắc này. Nếu rời nguyên tắc này, thì không còn là học Phật chân chính nữa.
Nắm vững ba điểm “giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm”, thì mỗi niệm đều đi đúng đường, không lạc phương hướng, đó mới chính là hành trì đúng pháp, là người thật sự học Phật.
TAM TỰ QUY Y LÀ GÌ?

Ba Sự Quy Y
Thân người khó được, nay đã được.
Phật pháp khó nghe, nay đã nghe.
Thân này nếu không độ trong đời này,
Lại đợi đời nào mới độ được thân này?
Người tu hành học Phật trước tiên cần phải thọ nhận Tam Quy Y, tức là quay về nương tựa nơi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Lấy Phật làm Thầy, lấy Pháp làm thuốc, lấy Tăng làm bạn lành. Nhờ vào đó mà đời đời kiếp kiếp không rời chánh pháp, vĩnh viễn xa lìa đường ác.
Sau khi quy y Tam Bảo, mới chính thức trở thành người Phật tử, cũng như khi đi học phải ghi danh trước, mới có tên trong sổ sách. Người đã quy y sẽ được 36 vị thiện thần hộ trì, và được ánh sáng từ bi của Tam Bảo luôn gia bị.
Quy y nghĩa là quay về nương tựa. Người mới học Phật, niềm tin còn non yếu, trí tuệ và năng lực chưa đủ, cần phải nương vào Tam Bảo. Nhờ sự che chở và dẫn dắt của Tam Bảo, người học đạo mới thành tựu việc học, việc làm, và việc tu. Ngoài ra, từ Tam Bảo bên ngoài, ta còn được khai mở Tam Bảo tự tánh vốn sẵn đủ trong chính mình.
Quy y cũng mang nghĩa là quay đầu trở lại. Vì sao cần quay đầu? Bởi từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta đã quay lưng với Tam Bảo, đi trên con đường sai lầm. Nay phải sửa lại nhận thức sai lạc, xả bỏ tà kiến, quay về với bản tâm chân thật, như vậy mới có thể vượt thoát sinh tử của chính mình.
Quy y Phật: Trước hết là quy y Phật – đấng Giác Ngộ, bậc Thầy chỉ đường cho hàng tu hành. Quy y Đức Thích Ca Mâu Ni cũng chính là quy y mười phương chư Phật.
Quy y Pháp: Phật vì muốn độ chúng sinh ra khỏi khổ mà thiết lập vô số pháp môn theo thứ lớp, ví như chương trình học trong nhà trường:
- Người tu Nhân đạo giữ 5 giới
- Người cầu cõi Trời tu 10 thiện
- Thanh văn tu Tứ Diệu Đế
- Duyên giác tu 12 Nhân duyên
- Bồ Tát tu Sáu Ba-la-mật.
Chúng sinh hành trì chánh pháp, lấy đó làm phương hướng sống, sẽ được an vui, giải thoát tự tại.
Quy y Tăng: Là quy y chư Tăng thanh tịnh – những bậc tu hành theo chánh pháp, là mô phạm của đại chúng. Do đó, nên quy y mười phương tất cả Bồ Tát Tăng, Thanh Văn Duyên Giác Tăng, và chư Tăng thanh tịnh.
Hơn nữa, trên con đường tu hành có muôn nẻo, chúng ta cần quy y một vị Thiện tri thức, để được hướng dẫn đúng đường. Tốt nhất là chọn một vị Thầy có đạo hạnh, học thức, thực hành chân thật, thường xuyên gần gũi, học theo lời dạy và hạnh nguyện của Ngài, từ đó thấm nhuần ánh sáng và công đức.
Nếu chưa thể tìm được một vị Thầy như thế, thì nên quy y nơi một vị xuất gia đã thọ Tam đàn đại giới (Giới Sa-di, Tỳ-kheo và Cụ túc giới), đang cư trú gần nơi mình ở.
Là Phật tử, nhất định phải quy y Tam Bảo, và phát nguyện như sau:
Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu rõ đạo lớn, phát tâm vô thượng.
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, hòa hợp đại chúng, không ngại tất cả.
Công Đức Quy Y Tam Bảo
Trong Luận Câu Xá quyển 14 có ghi:
“Những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thì thường dùng trí tuệ để quán chiếu Tứ Thánh Đế. Biết khổ, biết tập khổ, biết rõ sự vượt thoát khỏi mọi đau khổ, biết con đường Thánh Đạo tám ngành để tiến đến sự an lạc Niết-bàn.
Đây là sự quy y tối thắng, quy y tôn quý nhất. Chính nhờ sự quy y này mà có thể giải thoát mọi khổ đau.”
Trong Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 10 cũng dạy:
“Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Lấy Phật làm Thầy, nên gọi là quy y Phật.
Lấy Pháp làm thuốc, nên gọi là quy y Pháp.
Lấy Tăng làm bạn lành, nên gọi là quy y Tăng.
Hỏi: Vì sao chỉ quy y ba ngôi này?
Đáp: Vì ba ngôi ấy là nơi nương tựa rốt ráo, có khả năng giúp chúng sinh vượt khỏi sinh tử, chứng đắc Niết-bàn.”
Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới, đức Phật dạy:
“Vì muốn phá trừ các khổ đau, đoạn tận phiền não, chứng đắc sự an lạc tịch tĩnh tối thượng, nên chúng ta phát tâm thọ nhận quy y Tam Bảo.”
Cũng trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới, đức Phật còn dạy:
“Nếu có người phát tâm quy y Tam Bảo, thì công đức phước báo người ấy nhận được là vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. Ví như có bốn kho báu lớn, người trong cả nước cùng nhau vận chuyển suốt bảy năm cũng không hết, thế mà phước đức của người quy y Tam Bảo lại còn vượt xa gấp bội, không thể tính đếm được.”
Trong Kinh Phật Thuyết Hy Hữu Kiểm Lượng Công Đức, đức Phật dạy:
“Nếu có người phát tâm cúng dường một vị Phật Thế Tôn trong hai vạn năm, đầy đủ bốn loại cúng dường, cung kính phụng thờ, cho đến khi Phật nhập diệt lại thu nhặt xá-lợi mà dựng tháp bảy báu, mỗi tháp đều dâng hoa hương, âm nhạc, cờ phướn, lọng báu, đèn đuốc, dầu thơm… tất cả đều cúng dường, thì công đức thật không thể lường, vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.
Huống nữa là có người nam người nữ thiện tâm, với lòng thanh tịnh thuần hậu, phát lời nguyện:
‘Nay con quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng’, thì công đức ấy lại còn vượt hơn cả phước đức kia đến trăm ngàn vạn lần, vượt ngoài khả năng diễn tả, vượt cả suy nghĩ và ví dụ.”
Trong Đại Tỳ Bà Sa Luận, dạy rằng:
“Người sau khi thọ nhận quy y, có lòng tin kính Tam Bảo, thì sẽ được chư thiên thiện thần hộ trì, tránh được cái chết phi thời, không gặp bệnh khổ hiểm nghèo, không đọa vào ác đạo, được sinh làm người hoặc sinh lên trời.”
Quy y Tam Bảo, hành giả sẽ được 36 vị thiện thần hộ vệ, giúp tiêu tai giải nạn, và trong đời vị lai sẽ được sinh về cõi trời hoặc loài người. Đặc biệt, người đệ tử đã quy y Tam Bảo, khi Đức Di Lặc thị hiện thuyết pháp nơi Hội Long Hoa, sẽ được nghe chánh pháp và chứng đắc giải thoát.
Văn hào thời Tống – Tô Đông Pha, cũng là một Phật tử chân thành, từng cảm thán rằng:
“Giữa biển khổ mênh mông, Tam Bảo là con thuyền vượt sóng.
Trong ngôi nhà cháy rực lửa, Tam Bảo là cơn mưa mát lành.
Giữa đêm tối mịt mùng, Tam Bảo là ngọn hải đăng soi đường.”
Tam Bảo thật sự là chốn nương tựa rốt ráo, tối thắng trong vũ trụ và nhân sinh.
Người học Phật, khi quy y Phật – Pháp – Tăng, nên:
- Học theo hạnh nguyện và tác phong của đức Phật,
- Y giáo phụng hành theo chánh pháp,
- Kính trọng và hộ trì chư Tăng.
Nhờ vào Tam Bảo ở hình tướng bên ngoài, hành giả sẽ dần khai mở Tam Bảo nơi tự tâm, đó mới là ý nghĩa rốt ráo của sự quy y.
Trong nghi thức chính thống của lễ Tam Tự Quy (Quy Y), gồm có 8 mục như sau:
- Bày tòa thỉnh Sư – Người xin Quy Y tự tay sắp đặt pháp tòa cho Sư truyền giới, chuẩn bị hương hoa, đèn nến trang nghiêm chỉnh tề, sau đó thành kính đến lễ thỉnh vị Thầy lên tòa truyền Tam Quy.
- Khai đạo – Khai thị, giảng giải về ý nghĩa của việc Quy Y Tam Bảo.
- Thỉnh Thánh – Cung thỉnh mười phương Tam Bảo chứng minh cho lễ Quy Y, đồng thời thỉnh chư Hộ Pháp Long Thiên đến hộ trì đạo tràng và giám sát giới thể.
- Sám hối – Thành tâm sám hối các nghiệp chướng từ quá khứ, nguyện thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý. Sau đó, mới tiếp nhận giới thể Tam Quy thanh tịnh, không nhiễm ô.
- Thọ Quy – Thực hành ba lần quy y, ba lần kết lời phát nguyện, lập ba lời thệ nguyện vững chắc.
- Phát nguyện – Phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, nguyện độ tận tất cả chúng sanh.
- Hiển ích khuyên nhắc – Giảng rõ công đức và lợi ích thù thắng của việc Quy Y Tam Bảo, đồng thời khuyên nhủ người thọ giới nên y theo lời Phật dạy mà thực hành.
- Hồi hướng – Hồi hướng công đức của việc Quy Y cho tất cả chúng sanh còn đắm chìm trong sinh tử luân hồi, nguyện cho họ sớm thoát vòng khổ đau và được sinh về cõi Phật.
NGŨ GIỚI

“Đạo giữa chốn hồng trần náo động tu,
Tất cả đều lấy Ngũ Giới làm căn bản.”
Phật pháp lấy con người làm gốc, và cảnh giới loài người chính là do giữ tròn Ngũ Giới mà được. Nếu một người phát tâm thọ trì Ngũ Giới, đời sau có thể được thân người trở lại.
Thân người tuy cùng là người, nhưng có người giàu sang, kẻ bần hàn, có người sống lâu, kẻ yểu mệnh, có người trí tuệ sáng suốt, có người u mê đần độn, có người đẹp đẽ, có người xấu xí, cao thấp khác nhau… tất cả đều là do mức độ giữ gìn thanh tịnh của Ngũ Giới trong đời trước mà ra.
Ngũ Giới tuy nghe qua thì đơn giản, nhưng để trì giữ thanh tịnh trọn vẹn, thật không dễ dàng.
1 Không sát sinh:
Không cố ý giết hại bất kỳ sinh mạng nào, từ người, súc vật, côn trùng nhỏ bé cho đến việc phá thai.
2 Không trộm cắp:
Không được lấy bất cứ thứ gì không thuộc về mình, dù chỉ là một cọng cỏ, một nhành cây.
Bao gồm cả những hành vi như lừa gạt, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép, tất cả đều là trộm cắp.
3 Không tà dâm:
Không quan hệ tình dục ngoài mối quan hệ vợ chồng chính thức. (Mọi hành vi giao hợp nam nữ ngoài quan hệ chính danh đều gọi là dâm.)
4 Không vọng ngữ:
Không nói dối, không nói lời đâm thọc, không ác khẩu, không mắng nhiếc làm hại người khác.
5 Không uống rượu:
Không uống rượu, không khuyên người khác uống, không lui tới quán rượu, không khởi tâm tưởng đến việc uống rượu. (Vì uống rượu khiến thần trí mê loạn, đời sau dễ đọa vào ngu si, thiếu trí tuệ.)
Người tại gia phát tâm thọ trì Ngũ Giới,
- Nam gọi là Ưu Bà Tắc (Upāsaka)
- Nữ gọi là Ưu Bà Di (Upāsikā)
- Giữ một giới, có năm vị thiện thần hộ trì.
- Giữ đầy đủ năm giới, được hai mươi lăm vị thiện thần bảo hộ.
Người trì giới nghiêm cẩn, sẽ trở thành bậc thượng nhân trong đời, cảm được quả báo đại phú đại quý.
Người trì giới bậc trung, sẽ được phước báo vừa đủ sống an vui.
Người trì giới bậc hạ, có thể được làm thân người trở lại.
Nếu giữ giới kém hơn nữa, tuy có được làm người, nhưng sáu căn không đầy đủ.
Vì thế, muốn tu hành tiến đạo, nhất định phải bắt đầu từ việc thanh tịnh thân – khẩu – ý.
Phật pháp có Ngũ Giới, Nho giáo có Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Hai hệ thống tuy khác tên, nhưng ý nghĩa tương thông:
- Nhân là lòng nhân ái, từ bi, không sát sinh → tương đương với giới không sát sinh.
- Nghĩa là biết nghĩa lý, không tham lam tài vật người khác → tương ứng không trộm cắp.
- Lễ là sự tôn trọng, có chừng mực trong hành vi, nhất là giữa nam nữ → tương đương không tà dâm.
- Trí là sự sáng suốt, biết phân biệt đúng sai, không để tâm trí mê loạn → không uống rượu.
- Tín là lòng tin cậy, giữ lời hứa → ứng với không vọng ngữ.
Vì vậy, dù người không học Phật, nhưng biết làm việc thiện, không làm điều ác, giữ năm điều đạo đức ấy, cũng đã tương đồng với Ngũ Giới và sẽ cảm được phước báo trong cảnh giới loài người.
Cổ đức từng dạy rằng:
“Đạo giữa chốn hồng trần náo động tu,
Toàn nhờ Ngũ Giới dựng nền tu.
Giới sát phát khởi lòng từ lớn,
Không tham tài vật, sống thanh tu.
Thấy sắc chẳng mê, tâm thanh tịnh,
Cắt dứt rượu thịt, tánh chân như.
Muốn dẹp lưỡi dài, xin chớ dối,
Cầu thành Phật đạo chẳng cần tu tiên.”
Nguyện chư vị đồng tu hãy biết trân quý đời người này, siêng năng giữ giới, đừng để đời trôi qua trong uổng phí, để rồi mãi chịu khổ trong luân hồi sinh tử. A Di Đà Phật!
CÔNG ĐỨC THỌ TRÌ NGŨ GIỚI
Ngũ Giới là căn bản của tất cả thiện pháp — cả thế gian lẫn xuất thế gian.
Kinh Thiện Sanh dạy rằng:
“Nếu có ai nói rằng có thể vượt qua sinh tử mà không cần giữ Ngũ Giới,
thì điều ấy không thể có.
Này thiện nam tử, nếu muốn vượt qua biển sinh tử,
cần phải thành tâm thọ trì Ngũ Giới.”
Kinh Thất Phật dạy:
“Nếu ai có thể thọ trì Ngũ Giới,
sẽ được 25 vị thần thiện luôn theo hộ vệ.”
Kinh Biện Ý Trưởng Giả Tử ghi rằng,
Đức Phật dạy trưởng giả tử Biện Ý:
Nếu muốn sinh lên cõi trời, cần thực hành 5 điều,
được nói tóm lược bằng bài kệ:
Không sát sinh thì sống lâu,
Không bệnh, thân thể an lạc, được giải thoát;
Chư thiên đều tôn kính, thân an ổn, hào quang rạng rỡ.
Không trộm cắp thì giàu sang lớn,
Tự nhiên có tiền tài và châu báu;
Cung điện làm bằng thất bảo, tâm vui vẻ, an lạc mãn nguyện.
Không tà dâm thì thân thể thanh khiết, có mùi hương tự nhiên,
Thân tướng đoan chánh nơi sinh ra,
Đức hạnh sáng rỡ không cầu mà có.
Không nói dối thì hơi thở thơm sạch,
Ngôn từ luôn sáng suốt rõ ràng;
Nói chuyện không lắp bắp, lời nói ai nấy đều nghe theo.
Không uống rượu thì tâm không mê loạn,
Ở cõi nào cũng có chư thiên hộ vệ;
Khi mạng chung, có 25 vị thần nghênh đón,
Ngũ phúc (phước, lộc, thọ, an, hảo chung) tự nhiên đến,
Ánh sáng thân thể rực rỡ huy hoàng.”
Kinh Ưu Bà Tắc Giới dạy:
“Này thiện nam tử!
Trong tất cả các loại bố thí, bố thí vô úy (không sợ hãi) là tối thắng.
Vì thế, ta nói năm đại thí chính là Ngũ Giới.Ngũ Giới này giúp chúng sinh dứt trừ năm nỗi sợ hãi lớn.
Năm loại bố thí này rất dễ thực hành,
không gây trở ngại, không làm mất tài sản,
mà lại tạo ra vô lượng phước đức, không thể đo lường.Nếu không thực hành năm bố thí này,
thì không thể chứng quả Tu-đà-hoàn (Sơ quả),
cũng không thể đạt đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”
THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO: Mười điều thiện lành
THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO

Mười điều thiện lành gồm:
- Không sát sanh
- Không trộm cắp
- Không tà dâm
- Không nói dối
- Không nói lời hoa mỹ vô ích
- Không nói lưỡi hai chiều (ly gián)
- Không nói lời ác độc
- Không tham lam bỏn xẻn
- Không sân hận
- Không tà kiến
Giải thích ý nghĩa:
Trong mười điều thiện này:
- Ba điều đầu là Thân nghiệp (nghiệp thân – hành động của thân thể)
- Bốn điều giữa là Khẩu nghiệp (nghiệp miệng – lời nói)
- Ba điều sau là Ý nghiệp (nghiệp ý – tâm ý, suy nghĩ)
Chữ “nghiệp” nghĩa là hành vi, việc làm.
Nếu giữ gìn không phạm, gọi là Thập Thiện (Mười điều thiện).
Nếu vi phạm mà không giữ, gọi là Thập Ác (Mười điều ác).
Quả báo của thiện – ác:
- Thập ác, chia ba bậc: thượng, trung, hạ → chiêu cảm thân trong ba đường ác: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh.
- Thập thiện, cũng chia ba bậc: thượng, trung, hạ → chiêu cảm thân trong ba đường lành: Trời, Người, A-tu-la.
Gieo nhân thiện thì cảm quả thiện, gieo nhân ác thì chiêu quả ác.
Điều này chắc thật không nghi ngờ, không sai một ly.
Giải rõ từng điều:
- Sát sanh – Trộm cắp – Tà dâm – Nói dối, đã được trình bày trong Ngũ Giới.
- Lời hoa mỹ vô ích ( Ỷ ngữ):
Chỉ lời nói trau chuốt, bóng bẩy nhưng vô ích, dùng để nói chuyện dâm dục, khơi dậy tà niệm, làm mê hoặc lòng người. - Lưỡi hai chiều (Lưỡng thiệt):
Nơi này nói chuyện nơi kia, nơi kia nói chuyện nơi này, gây chia rẽ, kích động thị phi, ly gián đôi bên. - Lời ác độc :
Lời nói thô lỗ, cộc cằn như dao kiếm, phanh phui điều xấu người khác, không kiêng nể.
Nặng hơn là xúc phạm cha mẹ người, gọi là “đại ác khẩu”.
Người phạm điều này, đời sau phải chịu quả báo làm súc sanh.
Đã thọ Phật giới thì nhất định không được phạm. - Tham lam – Bỏn xẻn:
Của cải không muốn bố thí gọi là “xan”.
Muốn chiếm đoạt tài vật của người khác gọi là “tham”. - Sân hận :
Là giận dữ, oán ghét. Thấy người được lợi thì buồn phiền, thấy người gặp nạn lại mừng rỡ.
Cũng bao gồm kiêu ngạo, ỷ thế, bắt nạt người. - Tà kiến :
Không tin làm lành được phước, làm ác chịu tội.
Chối bỏ nhân quả, không tin có đời sau, phỉ báng Phật pháp, kinh điển, lời dạy của Thánh Hiền.
Tổng quát:
Mười điều thiện bao gồm trọn các pháp tu.
Nếu hành trì trọn vẹn, thì không có điều ác nào không dứt, không có điều thiện nào không tu.
Ứng dụng trong đời sống hằng ngày:
- Đối với cha mẹ:
Phải hết lòng hiếu thuận, không trái ý nghịch lòng.
Khéo léo khuyên cha mẹ quy y Tam Bảo, đoạn mặn ăn chay, trì giới niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, liễu thoát sinh tử.
Nếu cha mẹ chịu tin theo, đó là điều lành lớn nhất.
Nếu cha mẹ không nghe theo, chớ nên cưỡng ép, vì như vậy là trái với đạo hiếu.
Chỉ nên âm thầm thay cha mẹ sám hối tội lỗi trước Phật, như vậy là được. - Đối với anh em:
Phải thân thiết như bạn bè. - Đối với vợ chồng:
Phải hết lòng kính trọng lẫn nhau. - Đối với con cái:
Phải tận lực giáo dục, dạy con làm người tốt, biết điều thiện.
Tuyệt đối không nuông chiều, dung túng, khiến con trở thành người hư hỏng, bất hiếu. - Đối với làng xóm, hàng xóm:
Phải hòa thuận, nhẫn nhịn, khuyên nhau hiểu rõ nhân quả thiện – ác, để ai nấy đều cải tà quy chánh. - Đối với bạn bè:
Phải giữ trọn niềm tin. - Đối với người giúp việc, kẻ dưới:
Phải có lòng từ bi, đối đãi nhân hậu. - Đối với công việc chung:
Phải tận tâm tận lực như việc nhà mình. - Trong giao tiếp:
Gặp người lớn thì nói về từ bi.
Gặp người nhỏ thì nhắc đến hiếu đạo. - Làm ăn buôn bán:
Phải giữ sự thật thà, chân thật, không được dùng hàng giả để lừa dối người.
Xem thêm các bài viết Phật Pháp liên quan khác:
- Hướng dẫn tụng kinh sám hối tại nhà đúng pháp.
- Bát Quan Trai Giới Là Gì? Công Đức Và Cách Thọ Trì Tại Nhà.
- Sinh lão bệnh tử trong đạo Phật: Hành Trình Vô Thường và Giải Thoát
- Khai Thị Cho Người Bệnh Cầu Vãng Sanh Tây Phương
- Phân biệt 10 Danh hiệu chư Phật vs Thập Hiệu Đức Phật.
- Giải nghĩa Tứ Thiền và Tứ Vô Sắc Giới theo Phật pháp nguyên thủy
- TỨ VÔ SỞ ÚY
- 18 pháp bất cộng của phật giáo hữu bộ : Những Đặc Tánh Riêng Của Chư Phật
- Tứ Vô Ngại Trí : Trí tuệ biện tài của Bồ Tát
- Giải Nghĩa Như Lai Thập Lực – Trí Tuệ Dẫn Dắt Chúng Sanh
- Tứ Như Ý Túc – Cánh Cửa Đưa Đến Định Tuệ Hoàn Hảo
- Tứ Niệm Xứ: Bước Đầu Thực Hành Đưa Tâm Đến Bát Chánh Đạo
- Tứ Chánh Cần trong đạo Phật gồm những gì?

